Ốc nghêu chữa các bệnh về tim và đau nhức, vàn da

ỐC

Các loại ốc đều tính lạnh, vị hơi ngọt, không độc (trừ ốc sên). Ốc có nhiều chất đạm nhưng khó tiêu. Ốc có thể tiêu sưng thũng, trừ phong thấp, làm trơn ruột, thông đai tiểu tiện, và chữa chứng vàng da.

Ốc bươu, ốc hột, ốc gạo, luộc hay nấu ăn đều ngon vả bổ. Nếu chỉ sử dụng dược tính của ốc thì cần hợp dụng:

–           ỐC BƯƠU đâm tươi ba con, hòa với muối, đặt dưới rốn, chữa bí tiểu tiện.

–           ỐC VẶN đốt cháy, tán ra bột, uống với rượu ấm, chữa uất nhiệt, đầy bụng, trường phong hạ huyết. Đâm tươi với ít muối, đặt dưới rốn, chữa bí tiểu tiện. Đâm tươi với ít phèn chua, thoa bôi lên chỗ sung thũng hay ghẻ độc.

Ốc bươu 4 con, ốc vặn 10 con, đâm nát với rượu, lọc lấy nước uống, chữa hoàng đản.

–           VỎ ỐC VẶN đốt cháy, tán ra bột uống, chữa đau bụng và di tinh.

ốc

Sò tính bình, vị ngọt, chữa những chứng tim và lưng đau vì nhiễm khí lạnh, bồi bổ Ngũ tạng, làm tươi nhan sắc, tiêu thức ăn, giải đờm, tan ứ huyết. Sò lông có độc, động phong. Sò huyết ngon và lành, chỉ có độc tùy nơi tùy mùa. Danh y Trần Tang Khí viết: “thịt sò ôn trung, tráng dương giúp bộ tiêu hóa” (bản thảo Thập Di Bản).

Ăn sò nướng phải để hết hơi lửa, chấm muối chanh, sở dĩ không vội ăn, vì lỡ gặp con có chút độc, phải chờ khí độc bay đi theo khói. Muối chanh cũng là để khử độc, ngon miệng.

sò

NGHÊU (ngao)

Cùng họ với sò, giải độc rượu, chữa tiêu khát, chữa mụn nhọt sưng đau. Nhưng nghêu hay sò cũng chỉ là món ăn chơi, ăn nhiều hoặc hay ăn đều không tốt.

nghêu

Tác dụng trị bệnh của ếch và lươn

ẾCH

Thịt ếch tính lạnh, vị ngọt, không độc, chữa người khí không đủ, hay đau yếu, trẻ em bị lở da thối thịt.

món ếch

LƯƠN

Thịt lươn trừ phong thấp, bổ hao gầy, bổ trung tiêu, lợi huyết. Máu lươn tăng huyết, nó còn giúp người yếu sinh lý. Thanh niên yêu đương sự, dùng thuốc ôn bổ làm bột luyện với máu lươn, uống với chút rượu hoặc bia trước bữa ăn tối, sẽ tăng cường sinh lực và bền sức.

Máu đuôi lươn chữa trúng gió méo miệng. Méo bên này thì bôi bên kia, khi trở lại bình thường thì rửa đi ngay. Nếu có chút xạ hương pha thêm với máu đuôi lươn thì tốt hơn.

Da lươn đốt cháy thành than, uống với rượu lúc đói, chữa đàn bà bị sưng vú đau nhức. Nó còn chữa trĩ ngoại, ghẻ lở, hắc lào, ngứa da, sần sùi da vì gãi quá.

Những con lươn đen, hoặc trên đầu có chữ thập, dưới cố có đốm trắng, hoặc thả xuống đất mà ngóc đầu lên như rắn, là những con lươn có độc, không ăn và cũng không dùng máu, dùng da.

nón lươn

Những dược tính ở thịt vịt và thịt chim

THỊT VỊT

Thịt vịt tính bình, vị ngọt. Vịt vừa sống dưới nước, vừa sống trên đất, vừa ăn tôm cá cua sò ốc hến, vừa ăn thóc lúa, cho nên bổ dưỡng lục phủ ngũ tạng. Nuôi trên đất thì mùi hôi nặng, nhưng tính chất và công dụng thịt vịt giống nhau. Trứng vịt tanh hơn trứng gà nhưng dưỡng chất tương đương, và hột vịt lộn vừa bổ, vừa lành, vừa ngon miệng.

Giá trị dinh dường của thịt vịt tương đương với các loại đồng chủng như thịt ngan (vịt xiêm), thịt ngỗng v.v… Thịt ngan có độc. Ngan trắng ít độc hơn ngan đen. Người đau hoặc đang bị mụn mưng mủ không ăn thịt ngan, có thể đau nhức thêm hoặc tái phát bệnh.

Tiết canh vịt giải nhiệt, bổ máu, làm cho máu dễ lưu thông. Máu ngan, máu ngỗng có thể giải một số chất độc. Uống tiết cắt ra đang nóng sẽ ói chất độc ứ đọng trong Dạ dầy cùng với đờm và thực phẩm. Nhưng khi chất độc đã thấm vảo máu thì máu ngan máu ngỗng không thể giải.

thịt vịt

THỊT CHIM

Thịt chim tính bình hoặc ấm, vị ngọt, không độc, bổ trung tiêu, ích khí, tươi mát thịt, trị gầy ốm hư hao. Người già hoặc cần bồi bổ sau giải phẫu, sau bệnh nặng, ăn cháo chim câu non vừa dễ tiêu, vừa mau lại sức. Giá trị dinh dưỡng của chim câu hay chim cút cũng tương đương, cũng ích khí sinh tinh, bớt đi tiểu, ấm lưng, cứng chân tay. Có người nói thịt chim sẻ kích dục đa dâm (dược tính chỉ nam, quyền tư, trang 1198). Nhưng nhìn chung thịt chim cũng như máu chim đều đại bổ âm đạo, tráng dương khí.

Riêng Bìm bịp và Cò còn trị phong hàn, phong thấp và các thứ cảm mạo do gió mưa thất thường, giúp thân thể nhẹ nhàng khỏe mạnh, gân xương dẻo cứng.

Trứng cút trứng chim đều hạ khí, lợi âm dương, nhưng cũng như trứng gà trứng vịt, ăn nhiều quá thì hại Gan, đầy bụng, khó tiêu.

thịt cò

Dược tính ở thịt, thận và trứng gà

THỊT GÀ

Thịt gả tính ấm, vị ngọt. Gà có nhiều giống, cho nên về bỗ dưỡng thì tương tự nhau, nhưng về dược tính thì công dụng khác nhau.

Gà trống đỏ trị các chứng máu hư của nữ giới, như huyết trắng, rong huyết,… Nó còn bổ khí huyết, ấm Dạ dầy, mạnh tỳ kinh, bổ phổi cho chung gia đình.

Gả trống trắng hạ khí, an Ngũ tạng, điều hòa tỳ vị, lợi tiểu tiện, trừ gió độc, chữa ráo khát, v.v… Con nào lông trắng như bông mà chân đen, xương đen, rất tốt.

Gà trống đen bổ tỳ vị, trị phong thấp tê bại, chữa gẫy xương, nứt xương. Gà đen chân vàng mới tốt, chân đen thì phải tăng cường dược phẩm.

Gà mái trắng bổ Ngũ tạng, nhuận Phổi, trừ lao, ích Thận, trị tiểu tiện khan rát, phòng tràng tích kiết lỵ. Bổ dưỡng cho nữ giới, nhất là các bà lớn tuổi.

Gà mái đen có thể an thai, trừ khí độc, rút mủ, sinh huyết, trị các chứng phong thấp tê bại, đau bụng, gẫy xương, sưng vú. Người mới sinh mới mổ ăn cháo gà mái đen rất bổ.

Gà mái vảng giúp dương khí, tăng tinh tủy.

Các thứ thịt gà không ăn chung với tỏi, rau cải, cá chép. Trẻ em dưới 5 tuổi chưa nên ăn thịt gà. Những người bị các chứng phong độc phải kiêng thịt gà, vì thịt gà động phong phát hỏa, nó nóng và độc với nhừng người viêm gan, phong độc.

Đàn bà bị huyết trắng hoặc hồng lâu ngày không khỏi, thử làm con gà lông trắng xương đen, dùng bạch quả, hạt sen, gạo tẻ, mỗi thứ đều 20 gr, tán nhỏ, bỏ vào bụng gà khâu lại, nấu nhừ ăn điểm tâm một mình. Ráng ăn hết. Nếu thấy bớt thì tuần sau mới ăn lại.

trứng gà

TRỨNG GÀ

Trứng gà dùng cả lòng đỏ và lòng trắng, bổ khí huyết, mát cổ họng, tan khí nóng, an thai, dễ sinh.

Lòng đỏ tính ấm, vị ngọt nấu với giấm ăn, trị kiết lỵ sau khi sinh. Trẻ em phát sốt vì buồn bực cho ăn lòng đỏ luộc chín.

Lòng trắng tính hơi lạnh, trị chứng mắt đau và đỏ, chứng nóng dưới tim (tâm hạ phục nhiệt khí).

Những người ăn uống khó tiêu hay bị thấp khớp, không nên ăn trứng gà. Tính nó sợ rượu, không nên lấy trứng gà làm đồ nhắm.

THẬN GÀ

Trị chứng thối mũi. Lấy hai trái thận vả thịt cổ đàng trước của cùng một con gà, hai thứ bằng nhau, thêm 7 hạt đậu sị (đậu đen), cho vào chảo sao chung với lòng trắng trứng gà, tất cả vo tròn như cái bánh nóng bổc khói, để trước mũi, hít khói ấy vào. Mủ ngưng chảy là khỏi.

Dược tính trong thực phẩm

DƯỢC TÍNH TRONG THỰC PHẨM

Thực phẩm tiêu hóa trong Dạ dầy, chia thành những nhóm dưỡng chất đi vào cơ thể theo luật Đồng Khí Tương Cầu. Đó là cái nhìn tổng hợp về mặt bổ dưỡng của thực phẩm, nuôi sống con người. Nhưng về mặt bảo vệ sức khỏe, khi phòng trị bệnh thì lấy dược phẩm làm chính, lấy vị khí của thực phẩm làm gốc, cho nên cần hiểu rõ dược tính của mỗi món ăn.

Thuốc có nhiều vị, toa thuốc có nhiều thuốc, cần nắm vững dược tính của từng món ăn như lương y biết rõ từng vị, bác sĩ biết rõ từng thuổc. Có nắm vững như thế thì bừa ăn mới đầy đủ, thang thuốc mới hiệu nghiệm.

dược tính của thực phẩm

Nguyên tắc quan trọng và thiết yếu là THỰC PHẨM PHẢI TƯƠI SẠCH . Rau cải không sạch, có thuốc trừ sâu tồn đọng hay chứa quá nhiều phân hóa học, nếu ăn vào thì không ngộ độc cũng tích lũy mầm bệnh. Ăn thịt ướp hàn the, ăn cá đỏ mang nhờ urê, thì đưa dần độc chất vào cơ thể. Ăn tim hay Gan heo bò bệnh là đưa bệnh từ vật sang người. Ăn thịt động vật quá già là đưa hàng đống tế bào suy thoái vào đầy Dạ dầy, bắt đầu làm việc nhiều mà ít khả năng sinh hóa. “Ăn gì bổ nấy” là ăn đồ TÔT – TƯƠI – SẠCH chứ không phải ăn uống bừa bãi. Ăn đồ bệnh đồ hư chẳng những không bổ mà còn sinh chứng sinh bệnh.

Thực phẩm lấy từ thiên nhiên có muôn loài, muôn sắc, muôn vị. Cái nhìn thực tế đứng đắn và khoa học đòi hỏi nắm vững từng món từng vị thì mỗi bữa ăn mới có khả năng phòng trị bệnh. Để dễ tìm hiểu và tra cứu, chúng ta sẽ nhìn riêng từng món trong cái chung một nhóm một loài của tổng thể thực phẩm thiên nhiên. Nói trắng ra là truy tìm dược tính trong từng món ăn theo từng loại động vật và thực vật.

Với khả năng hạn hẹp, người viết xin ghi ngắn gọn về mỗi món ăn và chỉ đề cập đến những thực phẩm thông dụng của người Việt.

Phân loại thực phẩm: nhóm rau quả

Nhóm rau quả:

Nhóm rau Quả gồm có các loại rau cải và trái cây, ăn sống hoặc nấu chín. Nhóm này cung cấp chất khoáng và sinh tố.

Rau cải ăn sống và trái cây ăn xanh hoặc chín đều cung cấp rất nhiều sinh tố và một số muối khoáng, như sinh tố A và C, chất khoáng Canxi. Để khỏi mất sinh tố, nên dùng rau cải tươi, rửa nhanh, tránh ngâm nước lâu hoặc để nắng héo. Trái cây cho nhiều sinh tố và chất ngọt.

nhóm rau quả

Các thứ rau cải và trái cây như rau lang rau dền, đậu đũa đậu ván, bí xanh bí đỏ, bầu, mướp… Phải nấu chín mới ăn được. Các loại này vẫn giữ tính chất của nhóm, nhưng khi nấu chín thường mất đi nhiều sinh tố. Vì thế luộc rau nên cho to lửa, nước sôi sùng sục mới cho rau vào, không nên để nhừ quá và cố giữ lại màu xanh. Nấu canh vừa chín là đủ.

Nhóm này không cho đạm, không cho mỡ nhưng rất cần thiết cho cơ thể con người. Thiếu sinh tố thì ăn không tiêu, kém sức đề kháng trong cơ thể. Ngoài sinh tố, nhóm này là chủ lực đưa chất khoáng phục vụ cuộc sống con người. Bữa ăn cần rau cải như thịt cá, giá trị dinh dưỡng khác nhau, nhưng cần thiết như nhau.

Phân loại thực phẩm: nhóm thịt cá đậu

Nhóm thịt cá đậu:

Nhóm thứ hai gồm có thịt, cá, tôm, cua, sò, ốc và các loại đậu như đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, đậu trắng, đậu nành v.v… Nhóm này chủ yếu cung cấp chất đạm. Trữ lượng chất đạm trong l00g thức ăn nấu cách bình thường như sau: thịt heo 19g, thịt gà 30.3g, thịt bò 18g, cá 16g, tôm 18.4g, đậu đen 24g, đậu trắng 23g, đậu xanh 23.4g.

nhóm thịt cá đậu

Rõ ràng các thứ đậu có trữ lượng đạm nhiều hơn thịt, cá. Lượng đạm trong đậu có từ 23 – 41%, trong khi trong thịt cá chỉ có dưới 20%. Đạm các loại đậu dễ hấp thụ hơn (85%), và chứa hầu hết các chất axít amin cần thiết cho cơ thể. Chẳng hạn trong l00g đậu xanh có 1.15g Lysine, 0.30g Méthionine,0.30g Tryptophane, 1.15g Phénylalanine, 0.94g Thréonine, 0.96g Valine, 1.29g Leucine, 1.05g Isoleucine, v.v… như vậy đạm trong đậu xanh có axít Méthionme cần cho quá trình chuyển hóa mỡ khử độc, bảo vệ Gan, và axít Lysine cần cho trẻ em tăng trưởng.

Số lượng 1.15g Lysine trong l00g đậu xanh là số lượng lớn. Các loại đậu khác cũng có số lượng đạm nhiều. Nhưng về giá trị dinh dưỡng thì đạm động vật hơn đạm thực vật. Chất đạm từ thịt cá, tôm cua, sò ốc, có giá trị cao hơn các loại đậu.

Bữa ăn hàng ngày cần đầy đủ chất đạm. Số lượng cũng cần nhưng phẩm chất cần hơn, tùy kinh tế gia đình.

Dưỡng chất từ thực phẩm

DƯỠNG CHẤT TỪ THỰC PHẨM

Thực phẩm cung cấp dưỡng chất cho cơ thể con người. Hàng triệu triệu tế bào kết thành một thân thể cũng cần bồi dưỡng hàng ngày để sống và hoàn thành chức năng tự nhiên. Mỗi tế bào có một chu kỳ sống, tự hoại rồi hóa sinh. Riêng những nhiễm sắc Di truyền trong NÃO BỘ chỉ cần một ít chất đạm (protéin) từ thịt cá theo một chu trình nhất định. Nếu không được bồi dưỡng thì nó sẽ chết và chết luôn, không tái sinh như những tế bào khác. Thế là thông minh, tài trí, cần cù, nhẫn nại hay bệnh này tật khác của cả hai dòng họ, cũng bị tiêu tan một phần. Vấn đề ăn uống không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe và tuổi thọ cá nhân, mà còn liên quan tới gia đình và dân tộc.

dưỡng chất từ thực phẩm

Theo luật Đồng khí tương cầu, mỗi bộ phận con người đòi hỏi một số dưỡng chất. Chẳng hạn Gan cần vị Chua, rau đậu trái cây có sắc xanh, thích thịt chó, thịt cọp (những con vật dũng cảm và hướng về phía trước). Tim cần Vị Đắng, rau đậu trái cây có sắc đỏ, thích thịt ngựa, thịt voi (những con vật khỏe mạnh và cương quyết. Dạ dầy cần Vị Ngọt, rau đậu trái cây có sắc vàng, thích thịt bò thịt trâu (những con vật hòa hoãn và kiên nhẫn). Phổi cần Vị Cay, rau đậu trái cây có sắc trắng, thích thịt gà, thịt thỏ (nhưng con vật gia cầm, gia súc). Thận cần Vị Mặn, rau đậu trái cây sắc đen, thích thịt heo, tôm cá (những con vật sống dưới nước, hoặc thích nước). Những bữa ăn hàng ngày trong một tuần, một tháng, của một gia đình thì cần bồi dưỡng toàn bộ con người với đủ dưỡng chất tổng hợp.

Chức năng và những điều cần thiết về gan ở cơ thể người

 GAN

Gan lả gốc những công tác lao động, là chỗ ở của hồn, hoa của nó ở móng chân móng tay. Sung của nó ở gân. Gan làm chủ gân và con người lao động nhờ gân cốt, cho nên nó là gốc những công tác lao động trí não cũng như chân tay. Lao động trí óc vận dụng thần kinh não bộ. Lao động chân tay vận dụng đường gân thớ thịt.

Gan là tạng Dương. Hồn là tinh khí của Dương, là phần linh của khí. Trong con người, khí thuộc Dương, huyết thuộc âm. Dương không có âm thì không có chỗ dựa. Khí không có huyết thì không thể lưu thông. Gan lọc máu, chủ huyết, mà bên trong chứa Dương – khí, cho nên nó lả chỗ ở của hồn. Ban ngày, hồn đến với mắt, khiến con người nhìn thấy muôn vật. Ban đêm, hồn quay về Gan, thế là con người ngủ. Hồn không mạnh thì nhút nhát. Hồn không an thì nhiều mộng. Hồn không thể thấy bằng giải phẫu vả mộng không thế cân do bằng máy. Can tàng hồn, Gan chứa hồn. Là Dương khí tiềm ẩn trong Âm huyết.

Gan giữ nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động. Nơi con người, Âm chủ tĩnh, có vai trò thủ. Dương chủ động, có vai trò công, làm việc. Gan thuộc Kính Quyết Âm, là âm tận, cho nên có kiên nhẫn thủ thường. Nhưng âm tận thì dương sinh, thiếu dương lại thấy trong Quyết âm, Đởm sinh ra và ở trong Gan. Khi dương khí Đởm phát động thì muốn làm việc, phải làm việc. Đởm thuộc hỏa, là khí sinh ra từ Can mộc. Khi Đởm hỏa vượng thì con người không nhát sợ. Khi Đởm khí thái quá thì hành động ngang ngược, bạo tàn. Khi Đởm khí không đủ thì con người gặp việc gì cũng nhút nhát, sợ sệt.

Can là tạng dương trong âm, chủ về mưu trí. Đởm là dương sinh từ âm, chủ về quyết đoán. Cho nên khi Can khí Đởm khí đầy đủ, không cương không nhu, thì con người quyết định sáng suốt, lảm tròn phận sự.

Gan là tạng Mộc. Như cây có nhiều cành, chỗ cong chỗ thắng, Gan cũng có hệ thống gân đi kèm. Qua trung gian màn mờ, gân dính với xương bên trong và cơ bắp bên ngoài. Tất cả các bắp thịt đều có màn mỡ bao bọc vả gắn liền với hai đầu gân của cơ bắp. Can khí tiết ra từ màn bao bên trong ra tới màn bao bên ngoài. Đó lả con đường giao lưu chuyển khí giữa Gan và gân. Các chứng rút gân, co vặn, nhức giật, đều do các màn mỡ bên trong co duỗi không được vì can khí bất hòa sinh ra.

Gan lọc máu, cần có khí của Phổi chế thắng nó, Kim khắc Mộc. Gan mộc không bổc cháy đốt Tim hỏa thì khí Vị bình ổn, huyết mạch điều hòa. Nếu Phế Kim không thắng Mộc thì can hỏa sẽ bổc lên gây thành chứng hư hao, mất máu v.v… Khi gân và xương giao hòa thì móng chân móng tay cứng và nhuận sắc.

Gan mộc hợp với Phong, khí mát của trời. Nhưng nó lại ghét Phong. Mát quá thì máu ngưng trệ, đông đặc. Máu có hòa khí thì mới lưu thông điều hòa. Máu bị tà khí thì hư hao, tiêu tán. Người già trúng phong, trẻ em kinh phong, các chứng phong thấp, tất cả phải trị Gan làm gốc, tức là lấy đường huyết làm chủ. Phong là dương trong âm, là khí trong huyết. Chỉ có phong có thể sinh huyết vả chỉ có huyết mới điều dưỡng được phong. Chính vì thế mà phong sinh mộc (thiên khí sinh địa khí), mộc sinh chua (địa khí sinh vị khí), chua sinh Gan (vị khí sinh tạng khí), nhưng can ố phong, Gan ghét mát lạnh.

gan ở người

Gan là tạng chủ về huyết. Máu lưu hành không trệ, tiềm phục không động, nhờ dựa vào khí bình hòa. Nếu khí nghịch thì huyết nghịch. Can mộc uất ở dưới, Can hỏa phạm lên trên, là Can bị thương. Đường Dung Xuyên nói: “Buồn do Phổi làm chủ, quá buồn thì Kim sẽ khắc Mộc (Phổi thắng Gan). Giận do Gan làm chủ, quá giận thì can mộc bị nghịch, máu không thể an tĩnh” (Y kinh tinh nghĩa). Quá giận thì khí lên trên rồi không xuống, tích tụ nơi hông sườn, làm hại Gan. Buồn giận đều nghịch khí. Buồn thì uất bên dưới, dùng vị cay để thăng tán. Giận thì phạm lên trên, dùng vị đắng để giáng và giải. Cả hai cần dưỡng Gan để hòa khí huyết.

Gan làm chủ gân, thích vị chua và chua chạy theo Gan. Nhưng nếu bệnh Gan mà ăn nhiều chua sẽ tổn thương đến can khí. Gan thuộc dương, thời khí xuân. Nếu mùa đông không ẩn tàng thì mùa xuân không lấy gì để sinh cho nên bệnh Gan phát ra ở mùa đông. Nói khác đi, đông thiếu khí thì xuân huyết ngưng trệ, bệnh Gan sinh ra từ đó. Can khí bị thương thì ưa nói nhiều hoặc chảy nước mắt (phách lạc hồn phiêu).

Gan thuộc mộc, ứng với hướng đông, buổi sáng, mùa xuân. Can khí điều hòa thì máu lưu thông, bình ổn. Theo luật tương sinh thì Đông Phương sinh Phong, hướng đông sinh khí trời mát. Phong sinh mộc, khí mát sinh cây (Thiên khí sinh địa khí). Mộc sinh toan, cây trái sinh chua (Địa khí sinh vị khí). Toan sinh can, chua sinh Gan (vị khí sinh tạng khí). Can sinh cân, Gan sinh gân (tạng khí nuôi thể khí). Tới đây khí biến thành hình, cho nên can sinh Tâm, Gan nuôi Tim (Mộc sinh Hỏa), và được Thận nuôi (Thủy sinh Mộc, Thận nuôi Gan).

Theo luật tương khắc thì phong thương cân, phong hại gân. Táo thương phong, khô hại mát, tức là kim khắc mộc. Tân thương Toan, cay hại chua. Nộ thương can, giận hại Gan. Can thắng Tỳ, Gan thắng Dạ dầy, tức là Mộc khắc Thổ, cây hút mầu mỡ của đất, làm xấu đất. Và Gan bị Phổi khắc chế, Kim khắc Mộc, búa rìu dao cưa chặt xẻ cây.

Nói tóm lại, Gan là gốc công tác lao động, làm chủ gân, là chỗ ở của hồn. Gan lọc máu, hợp với thực phẩm có vị chua, sắc xanh, thông với khí mùa xuân, buổi sáng, hướng đông. Đối nội, Can khí nuôi dưỡng gân, thông với mắt. Can khí hòa thì mắt phân biệt rõ mầu sắc.

Bộ phận tim ở cơ thể người

TIM :

Tim là gốc sự sống. Tim chú về huyết mạch. Tim tiếp nhận khí và dưỡng chất để chuyển hóa thành máu, đưa đi nuôi dưỡng toàn thân. Theo quan điểm Đông y, Tâm tàng Thần, Con người có tri giác là do Thần làm chủ. Gọi là Thần vì nó biến hóa không thể lường. Đường Dung Xuyên ghi chú: “Thần sinh ra từ tinh khí của Thận, đi lên quy vào Tim, hợp thành quẻ Ly, Hỏa. Chính nhờ âm tinh hợp bên trong và dương tinh bảo vệ bên ngoài mà Hỏa khí do Tim chứa chất mới chiếu sáng rực rỡ để con người có thể tiếp xúc thông cảm với trời đất muôn vật. Thần chính là Tâm Hỏa được Thận Thủy giúp, cho nên xuất ra được thần minh. Khi Tâm huyết không đủ thì thần khí bứt rứt. Khi Tâm hỏa không đủ thì thần khí nhút nhát. Phong đàm nhập Tim thì thần khí bị hôn mê…” (Linh khu 8, thiên Bản – Thần).

Tim là gốc sự sống và tàng thần, cho nên Tim giữ vai trò chủ yếu trong cơ thể. Tim và Thận cùng giao nhau để làm nhiệm vụ chung. Thận sinh tinh, chủ tủy. Màn tủy thông với Tim là con đường giao lưu sự sống bên trong. Tâm hỏa có ánh sáng và sức nóng. Thận thủy nhở tủy có khả năng tiếp thu vả khuếch tán. Tâm thần lên trên đi vào Não Tủy làm cho ánh sáng chiếu tỏa trong não bộ.

Theo lý của Ngũ Hành tương sinh tương chế thì có chế mới sinh hóa. Tim thuộc hỏa được Thận thủy chế. Thận làm chủ cho sự sinh hóa của Tim, nhờ Thủy đến giao với Hỏa mà Tim sinh Huyết. Khi nào có thủy giúp hỏa thì công dụng của hỏa mới thành.

Tim chủ huyết mạch, cho nên huyết đầy đủ thì sắc mặt tươi, mạch chạy đều hòa. Máu từ tim thông xuống Thận đem vị mặn. Khi nói Hàm tẩu Huyết (mặn chạy theo máu) là thủy khí của Thận giao lên đến Tim. Bệnh huyết mạch mà ăn uống nhiều mặn là làm cho thủy thắng hỏa chứ không trợ hỏa nữa.

tim ở ngươiuf

Tim hợp vị đắng, sắc đỏ, ưa thích thực phẩm đem lại tươi mát, mang dương tính. Tim thuộc hỏa nhưng rất ghét nóng. Gan nóng đốt gân làm động kinh, co giật. Phổi nóng làm ho, khát nước. Dạ Dầy nóng làm tiêu hao thịt mỡ, bí đại tiện, nóng từng cơn. Thận nóng làm cốt khí bị tiêu, tinh khô, tủy kiệt. Thượng tiêu nóng làm tim phiền não, miệng khát, mắt đau. Trung tiêu nóng làm giảm ăn uống, thũng trướng, kiết lỵ, sốt rét. Hạ tiêu nóng làm tiểu tiện bất lợi, đại tiện bất thường. Các chứng nóng biểu hiện không giống nhau, nhưng không ra khỏi vai trò của Tim. Chính Tim là Hỏa Tạng, làm chủ điều hòa Hỏa Nhiệt toàn thân, bên trong cũng như bên ngoài. Tim sinh huyết để dưỡng hỏa. Nếu hỏa bình hòa thì thân nhiệt ổn định. Nếu hỏa viêm nhiệt thì máu trong Tim bị đốt, bị thương. Cho nên muốn trị các chứng nóng thì không thể dùng vị đắng. Đó là nhằm trị hỏa quá viêm của Tim. Mặt khác, mồ hôi là dịch của huyết, có thể giảm nhiệt cho cơ thể và bớt mặn cho máu.

Tim thuộc hỏa, thuộc tạng dương. Tâm khí gặp Phế khí thuộc âm thì vui mừng. Sách Linh Khu viết: “Thần khí có dư thì cười không thôi. Nhưng khi hỉ lạc quá mức thì sẽ tổn thương đến hồn phách”. Mã Nguyên Đài ghi chú thêm: “Nếu Tâm bị hư, tinh khí của các tạng khác nhập vảo sẽ làm hỉ thành bệnh” (Linh Khu chú chứng phát huy). Đó là tà khí hoặc u sầu sợ hãi xâm nhập trong lúc nguyên khí có chỗ bị thương tổn cho nên làm Tim sinh bệnh. Khi hỏa khí bình ôn và phát sáng thì sẽ hóa sinh huyết dịch, hợp lưu trong gân mạch. Khi huyết mạch giao lưu hài hòa thì vui mừng hiện lên nét mặt. Ngược lại, khi Tâm khí bị nghịch, hỏa bị uất, huyết bị trệ, sẽ làm tổn thương Tim.

Tâm khí thông với lưỡi. Tâm khí hòa thì lưỡi phân biệt ngũ vị, cho nên Tim là chủ lưỡi. Khí hay năng lượng biểu hiện ở trời là nóng, ở đất là hỏa, ở thế là mạch, ở tạng là Tim, ở sắc là đỏ, ở vị là đắng, ở khiếu là lưỡi. Theo quy luật tương sinh: Nam phương sinh nhiệt, hướng nam, mùa hạ, giữa trưa thì trời nóng. Nhiệt sinh hỏa, nóng sinh lửa, (thiên khí sinh địa khí). Hỏa sinh khổ, lửa sinh đắng, (địa khí sinh vị khí). Khổ sinh Tâm, đắng sinh Tim. (Vị khí sinh tạng khí). Tâm sinh huyết, tim sinh máu, (tạng khí sinh thần khí). Tới đây, khí đã thành hình, cho nên theo Ngũ Hành thì huyết sinh Tỳ, tức là Hỏa sinh Thổ, tim máu sinh Dạ dầy, và Gan sinh Tim là Mộc sinh Hỏa.

Theo luật tương khắc: Nhiệt thương Khí, nóng hại khí. Hàn thương nhiệt, lạnh hại nóng. Khổ thương khí, đắng hại Phế Khí. Hàm thắng khổ, mặn hại đắng. Khủng thắng Hỉ, lo sợ hại vui mừng. Đối chiếu vào ngũ tạng thì Tim thắng Phổi (nhiệt khổ làm hại khí), hỏa khắc Kim, và Thận thắng Tim (mặn và sợ làm hại đắng và vui), thủy khắc hỏa.

Nói tóm lại, Tim là gốc sự sống, là lẽ biến của thần. Hoa của tim ở mặt. Sung của tim ở huyết mạch. Tim là tạng Hỏa dương, thông với Khí mùa hạ, phương Nam, giờ trưa. Tim giúp Dạ dầy, thắng bớt Phổi, và bị Thận thắng bớt, được gan giúp đỡ.