Dược tính trong một số gia vị làm tăng mùi thức ăn

DƯỢC TÍNH TRONG GIA VỊ

Gia vị các thứ cho thêm vào món ăn để tăng vị thơm ngon, kích thích dịch vị, đồng thời nó còn đề phòng độc tố bám dính trong thức ăn. Gia vị có nhiều dược tính nhất trong các nhóm thực phẩm. Do đó gia vị thường được ướp vào thịt cá trước khi nấu nướng một thời gian đủ thấm. Gia vị cũng được rắc thêm khi nấu nướng xong hoặc ăn kèm với món ăn. Người sành ăn sử dụng gia vị đúng cách, đúng lượng, đúng chất. Mỗi món ăn có một số gia vị thích hợp:

“Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.

Con chó khóc đứng khóc ngồi,

Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”.

(Ca dao)

Mỗi miền dân cư, mỗi phương pháp nấu ăn, mỗi người, mỗi tuổi, đều sử dụng gia vị một khác. Nhưng nhìn chung muốn sử dụng gia vị một cách khoa học và khoái khẩu thì cần nắm vững dược tính của từng loại, từng thứ.

ĐINH HƯƠNG

Đinh hương tính nóng, vị cay, không độc. Đinh hương điều tiết phế khí, ấm Dạ dầy, nóng âm hộ, điều hòa thần kinh, mạnh dương sự, chữa ói mửa, ợ chua vì bị lạnh, giải độc rượu, chữa đau bụng dồn lên từng cơn.

Đinh hương có hai thứ, cái và đực. Mẫu đinh hương có sức mạnh hơn. Nếu dùng Hùng đinh hương thì phải bỏ cuống. Chỉ cần để khô rồi xay thành bột, không được sao vì đinh hương kỵ lửa. Đinh hương thơm ngát, có thể át hẳn mọi thứ hương thơm và đánh tan mùi tanh của thịt cá hay thực phẩm.

Người có Dạ dầy bị uất hỏa, bốc lên hôi miệng, hoặc đang bị đau răng, không dùng đinh hương, vì tính nóng, như lửa cháy đổ thêm dầu, hơi thở hôi thêm hoặc răng nhức hơn.

GỪNG

Gừng tính ấm, vị cay, không độc, gừng làm tan khí lạnh trong người, trừ hơi lạnh ở Phổi, trị ho, nghẹn tức ngực, chống gió độc. Gừng còn chống ói, hạ khí, thông thủy, đưa những khí xấu nước thừa xuống đưa ra ngoài.

Ngày xưa, các cụ đi xa đi sớm thường ngậm một miếng gừng tươi trong miệng để chống

ói, đề phòng gió độc.

Danh y Chu Đan Khê nói: “Gừng sống để nguyên vỏ thì mát, gọt bỏ vỏ thì nóng. Thực ra không phải vỏ gừng mát, nhưng dùng cả vỏ thì gừng đánh tan nhiệt tà, đuổi hết khí nóng trong người ra ngoài. Nếu bỏ vỏ thì nóng giữ lại trong người, nóng vẫn còn nóng”.

Người bị khô Dạ dầy hoặc bị nóng lâu ngày, trong ngoài cảm thấy khô ran, hay ra mồ hôi nhiều, hoặc đang tháo mồ hôi, không ăn gừng sống nhiều hoặc ăn lâu ngày, dễ sinh đau mắt hoặc bệnh trĩ.

Gừng sống giã lấy nước uống chữa cảm gió, cảm nắng, cảm lạnh. Nước gừng sống cũng tiêu tan đờm rãi, đẩy khí nóng chất thải xuống, tống ra ngoài.

Nước gừng sống uống với nước trà thì tiêu đờm nóng, uống với nước bán hạ thì tiêu đờm lạnh, hòa với mật ong thì tiêu thức ăn nóng lạnh lình xình trong bụng.

Gừng sống 2 lạng, phụ tử 1 lạng, sắc với 5 bát nước nấu kỹ còn 2 bát, chia làm 2 lần uống, chữa đờm tích tự nhiên ngăn lăn như trúng gió.

Gừng sống nhai kỹ, gọt sạch, cắt ra từng miếng, ngậm nhai từ từ, nuốt rồi nhả bã, chữa sốt rét nóng lạnh, ho có đờm.

Gừng sống 5 lạng và nửa cân kẹo mạch nha, nấu kỹ, ăn kết hợp chất ấy, chữa ho lâu ngày không khỏi. Thuật dưỡng sinh ngày xưa cũng dùng phương pháp này.

Gừng sống giã nát nấu nước tắm cho trẻ em, chữa bé ho lâu ngày. Đừng để nước vào tai, mắt, mũi.

Gừng sống thái ra vài 3 miếng, ngậm nhai từ từ trong miệng, nuốt nước xuống, chữa chứng khí nghịch đưa lên khó chịu, hoặc ói ra nước hoài.

Gừng sống 5 lạng, 4 bát nước lã, nẫu kỹ còn 2 bát, chia làm 3 lần uống, chữa đau bụng nóng loạn, bứt rứt trong người.

Gừng sống 3 lạng, giã nhỏ, nấu chín với 1 bát rượu, uống nóng. Bên ngoài dùng gừng sống giã nhỏ đắp vào chỗ bụng đau. Chữa bị lạnh, đau bụng tới nỗi chuyển gân co rút vào bụng, quằn quại muốn chết.

Gừng sống 1 cân cho vào 7 bát nước, nấu kỹ còn 2 bát, chia ra uống 3 lần, chữa đau bụng đầy hơi, to chướng lên, muốn ói không ói được.

Gừng sống sắc với táo tầu uống, hòa trung tiêu, bổ tỳ khí. Nấu với rễ thược dược, ấm kinh mạch, tán hàn, nấu với tre trúc non, làm tan đờm nóng. Nấu với bán hạ, tan đờm lạnh.

Gừng sống 1 lạng (nướng sơ) giã lấy nước, phụ tử 3 đồng tán ra bột, 2 thứ hòạ vào, nấu ấm lên uống, chữa trúng lạnh, tay chân và bụng lạnh run, ói mửa, chuyển gân co rút.

Gừng khô 1 lạng, quế nhục 2 lạng, quế chi một lạng, đâm nát cả 3 thứ ngâm vào nửa lít rượu, để 1 ngày (24 giờ), lược bỏ xác, lấy nước cho thêm 1 lượng đường, đun sôi quậy đều tay, uống mỗi lần 2 muỗng cà phê, chữa trúng gió, trúng lạnh, thình lình ngất xỉu, đau bụng, ói mửa.

kho thực phẩm với củ gừng

KHƯƠNG Bì là vỏ củ gừng, điều hòa Dạ dầy, hành thủy, chữa phù thũng trướng mãn.

TỬ KHƯƠNG là đầu củ ngọn non mới nhú ra, sắc tía, chữa trị cả trăm thứ tà khí.

BÀO KHƯƠNG là gừng bọc giấy ướt nhiều lớp nướng, tiêu khí độc, thức ăn độc.

CAN KHƯƠNG là gừng thật già, rửa sạch, để nguyên vỏ, phơi khô, rất cay, rất nóng, đuổi hàn khí, tà khí, ấm kinh mạch, làm khô khí ẩm trong người, tiêu đờm chống ói.

HẮC KHƯƠNG là gừng già, nướng cháy đen vỏ ngoài, nóng và cay cực đại, chữa dương khí hư, huyết hư, sản phụ khí hư huyết kém.

Can khương hợp với hắc phụ, trợ dương, cứu mạch, thông tâm khí, đuổi khí ẩm lạnh, làm ấm máu hàn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *