Một số gia vị khi chế biến sẽ trị bá bệnh kết hợp cùng thực phẩm sạch

NGHỆ

Củ nghệ tính bình, vị cay đắng, không độc. Củ nghệ chủ về khí và huyết, hạ khí bốc lên ở thận, hòa khí lạnh ở tim đánh tan khí tụ ở bụng. Củ nghệ cũng phá máu xấu, máu đặc và các chứng mất máu. Giúp mau chóng sinh da non, không để thẹo.

Bột nghệ kho cá, đúc bánh xèo,… Vừa đánh tan mùi tanh của tôm cá, vừa trừ khí độc vương vấn trong cá tôm. Nghệ không thơm nhưng hương bốc mạnh, đánh thẳng, đánh tan mọi hương thơm, mùi tanh, mùi thối.

Nghệ giã nát, đun nóng với giấm hoặc rượu uống hoặc chườm, chữa máu tụ, máu hư, mất máu hoặc đi tiểu ra máu.

Củ nghệ, củ cỏ cú đều 1 lạng, cam thảo 2 đồng, tán ra bột, hòa với nước nấu gừng, muối, tía tô, uống mỗi lần 2 đồng cân, chữa chứng đờm và máu tích tụ.

Củ nghệ 7 lạng, phèn chua 3 lạng, tán ra bột, uống với nước nóng mỗi lần 2 đồng cân, chữa phụ nữ uất khí huyết, phát điên khùng.

nghệ

ỚT

Ớt tính nóng, vị rất cay, có ít độc. Ớt làm ấm trung tiêu, tan lạnh, trừ ẩm, chống ác khí trong người, khử chất độc trong thịt cá.

Ớt có nhiều loại: ớt hiểm, ớt sừng trâu, ớt tròn, ớt chùm, thái tiêu, thanh tieu, phien tiêu… Tính chất gần như nhau, chủ yếu dùng làm gia vị, ăn tươi, tán ra bột, hoặc làm tương ớt, nhưng khi sử dụng dược tính, làm vị thuốc thì cần dùng đúng từng loại.

Ớt hiểm chín đỏ 10 trái sao trên miếng thiếc cho cháy khô, thạch cao (phi) 2 đồng, tất cả tán ra bột, thoa vào răng, chữa sâu răng đau nhức.

Ớt hiểm chín đỏ giã lấy nước, thoa 2 bên thái dương (đừng gần 2 mắt), chữa nhức đầu.

Ớt hiểm xanh 2 đồng, có màng chầu 2 đồng, tiêu sọ 5 phân, tất cả giã nát, cho thêm 1 bát dầu mù u, nấu lửa riu riu cho đặc lại, lược bỏ xác, thêm vào 1 cục sáp, rồi cô đặc, để nguội, trét vào giấy, dán lên các mụn nhọt ung bướu.

Ớt sừng trâu 3 trái thả vào lu nước mới đổ đầy, giải chất độc trong nước. Nếu thấy ớt tự nó bể ra thì nước ấy có nhiều độc, không dùng.

Người bị trĩ, đau mắt hoặc bao tử nóng, phải kiêng ớt.

ớt chuông màu săc

QUẾ CHI

Quế chi là một vị thuốc quý lấy từ vỏ cây quế. Có nhiều tên gọi: quế quan, quế thanh, quế quỳ, quế lợn, quế quảng, quế sơn… Đều là vỏ quế bóc ở thân cây, có khi gọi là Ngọc quế hay Nhục quế . Những miếng lẻ của vỏ cây gọi là quế khẩu hay quế biên. Còn quế tâm là đã gọt vỏ bên ngoài và cả phần thịt bên trong, chỉ còn lớp tím thẫm chứa toàn dầu. Các loại quế ấy rất đắt và chuyên dùng làm thuốc. Đại bổ khí, hóa sinh huyết, tăng cường mạch máu, ấm xương gân, trị đau lưng đau mình, buốt trong xương trong ruột, bệnh lâu ngày lâu năm không khỏi.

Quế chi là vỏ quế bóc ở các cành lớn nhỏ. Trong công nghiệp thực phẩm và cả dược phẩm, nhất là gia vị, chỉ dùng quế chi. Dược tính rất khác nhau. Nhục quế phải xem sắc vỏ cả ngoài lần trong, lức tươi cũng như khô:

“Lòng son da khế

Là Quê thường Xuân

Tốt nhất trên trần

Chữa trăm thứ bệnh”.

(Tục ngữ)

Nghĩa là màu sắc bên ngoài như da cây khế, bên trong thớ thịt nhỏ, mịn và đỏ như son. Ngoài sắc còn phải xét hương và định vị. Hương thơm man mát chứ không sặc sụa, dịu dàng thanh nhã chứ không nồng nặc hăng cay, vị ngọt và ấm lấn lướt vị cay nóng lưỡi.

Nhục quế DẪN HỎA QUY NGUYÊN, đưa hỏa về nguồn, tâm hỏa về tim, can hỏa về Gan, bồi bổ cho tim gan v.v… Còn quế chi thì PHÁT HỎA, ĐỘNG HỎA, PHẠT HÓA, ăn nhiều sinh hôi miệng, nóng mặt, nhức đầu, đau bụng v.v… Nhưng ở đây, dùng quế làm gia vị, cho nên chỉ cần biết dược tính của quế chi.

Quế chi tính ấm, vị cay hơi ngọt, không độc. Quế chi làm thông kinh mạch, ấm cơ thể, trừ gió độc khí độc bên ngoài xâm nhập, chữa cảm gió đổ mồ hôi, nhức đầu, đa 1 mình, đau nhức các khớp xương, gân.

Quế chi, táo tàu, cam thảo, sắc uống tăng cường sức đề kháng, điều hòa giao lưu các màn mỡ bảo vệ cơ thể và nội tạng.

Quế chi, thược dược, cam thảo sắc uống, bồi bổ tân dịch, đánh tan khí độc, gió độc.

Quế chi, rễ thược dược, cam thảo, táo tầu, gừng sống, sắc uống, chữa nhức đầu, nóng đổ mồ hôi, sợ gió.

Phụ nữ có thai và những người nóng quá không dùng quế. Khi dùng quế thì phải kiêng hành, hoặc dùng hành thì kiêng quế.

thịt bs chỉ kho quế

RIỀNG

Củ riềng tính rất nóng, vị cay, không độc. Riềng làm ấm Dạ dầy, hạ khí, tiêu thực, chữa bụng lạnh sôi và đau, trị sốt rét rừng, chướng nước, chướng khí. Tính nóng của riềng giúp Dạ dầy khỏe mạnh, trị chứng Dạ dầy tự dưng bị lạnh, khí lạnh bốc lên mỏ ác làm đau nhói ở trên, hoặc dồn xuống đan điền làm đau chằn dưới bụng, có khi chuyển gân hoặc tiêu chảy. Sức nóng của riềng già, giã nát, ướp kỹ, làm chín cá (không cần nấu nướng) khi ăn gỏi.

Củ riềng rửa bằng rượu và củ cỏ cú rửa bằng giấm, đem phơi nắng suốt ngày, mỗi sáng rửa lại, phơi đủ 7 ngày, tán ra bột, uống với nước nóng, chữa Dạ dầy bị lạnh khó tiêu, hoặc sán lãi làm đau bụng.

Củ riềng, đương quy, thảo khấu, đều 3 đồng, tán ra bột, uống với nước nóng, chữa sản phụ ứ huyết làm đau bụng, có khi ói mửa.

Củ riềng, hạt tía tô, vỏ quýt, đều 3 đồng, tán ra bột, hòa mật ong viên chừng 2 đồng cân, uống mỗi lần 1 viên với rượu, chữa chân sưng đau nhức (cước khí).

Củ riềng, gừng khô, quế biên, thường sơn, thảo quả, đều 2 đồng tán nhỏ, uống mỗi lần 2 đồng với rượu hoặc nước sôi trước cơn sốt (chặn đầu), chữa sốt rét (ngược tật).

Sắc củ riềng với đại táo, uống, chữa đau bụng, nôn mửa. Hạt riềng tán bột, uống, chống sơn lam chướng khí.

SẢ

Sả tính ấm, vị ngọt the thơm, không độc. Sả làm thông khí hạ đờm, trừ uế khí, giải phong, ấm Dạ dầy, chữa tim đau vì lạnh, trị no hơi, khó tiêu.

Cây và lá nấu nước tắm, chữa cảm nhẹ, trừ ác khí.

Củ sả 1 tép, gừng sống 3 lát, giã vắt nước uống, chữa trẻ em kinh phong sôi đờm.

Củ sả già (nướng) 2 đồng, củ riềng (nướng) 1 đồng, củ cỏ cú, củ bồ bồ, đều 3 đồng, nhục quế, ngải cứu đều 1 đồng, tán ra bột, uống với rượu hoặc nước nóng, mỗi lần 2 đồng cân, chữa đau bụng no hơi, trúng thực, ăn không tiêu.

Củ sả già 1 lạng, củ bồ bồ 5 đồng, gừng sống 1 đồng rưỡi, phèn chua 5 phân, củ bạc hà 3 đồng, giã vắt nước uống, chữa nóng cuồng làm kinh phong sôi đờm, sủi bọt mép.

Củ sả dài, củ cỏ cú, củ bồ bồ đều 5 đồng, củ riềng nướng, hậu phác đều 2 đồng, cám rang cháy 5 đồng, Dạ dầy heo một cái nướng khô, các thứ đậu (xanh, đen, vàng, đỏ, trắng) mỗi thứ 2 đồng rang thơm, tất cả tán ra bột, trộn chung, uống mỗi lần 2 đồng, chữa Dạ dầy đau tức, không thu nạp thức ăn.

Dược tính trong một số gia vị làm tăng mùi thức ăn

DƯỢC TÍNH TRONG GIA VỊ

Gia vị các thứ cho thêm vào món ăn để tăng vị thơm ngon, kích thích dịch vị, đồng thời nó còn đề phòng độc tố bám dính trong thức ăn. Gia vị có nhiều dược tính nhất trong các nhóm thực phẩm. Do đó gia vị thường được ướp vào thịt cá trước khi nấu nướng một thời gian đủ thấm. Gia vị cũng được rắc thêm khi nấu nướng xong hoặc ăn kèm với món ăn. Người sành ăn sử dụng gia vị đúng cách, đúng lượng, đúng chất. Mỗi món ăn có một số gia vị thích hợp:

“Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.

Con chó khóc đứng khóc ngồi,

Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”.

(Ca dao)

Mỗi miền dân cư, mỗi phương pháp nấu ăn, mỗi người, mỗi tuổi, đều sử dụng gia vị một khác. Nhưng nhìn chung muốn sử dụng gia vị một cách khoa học và khoái khẩu thì cần nắm vững dược tính của từng loại, từng thứ.

ĐINH HƯƠNG

Đinh hương tính nóng, vị cay, không độc. Đinh hương điều tiết phế khí, ấm Dạ dầy, nóng âm hộ, điều hòa thần kinh, mạnh dương sự, chữa ói mửa, ợ chua vì bị lạnh, giải độc rượu, chữa đau bụng dồn lên từng cơn.

Đinh hương có hai thứ, cái và đực. Mẫu đinh hương có sức mạnh hơn. Nếu dùng Hùng đinh hương thì phải bỏ cuống. Chỉ cần để khô rồi xay thành bột, không được sao vì đinh hương kỵ lửa. Đinh hương thơm ngát, có thể át hẳn mọi thứ hương thơm và đánh tan mùi tanh của thịt cá hay thực phẩm.

Người có Dạ dầy bị uất hỏa, bốc lên hôi miệng, hoặc đang bị đau răng, không dùng đinh hương, vì tính nóng, như lửa cháy đổ thêm dầu, hơi thở hôi thêm hoặc răng nhức hơn.

GỪNG

Gừng tính ấm, vị cay, không độc, gừng làm tan khí lạnh trong người, trừ hơi lạnh ở Phổi, trị ho, nghẹn tức ngực, chống gió độc. Gừng còn chống ói, hạ khí, thông thủy, đưa những khí xấu nước thừa xuống đưa ra ngoài.

Ngày xưa, các cụ đi xa đi sớm thường ngậm một miếng gừng tươi trong miệng để chống

ói, đề phòng gió độc.

Danh y Chu Đan Khê nói: “Gừng sống để nguyên vỏ thì mát, gọt bỏ vỏ thì nóng. Thực ra không phải vỏ gừng mát, nhưng dùng cả vỏ thì gừng đánh tan nhiệt tà, đuổi hết khí nóng trong người ra ngoài. Nếu bỏ vỏ thì nóng giữ lại trong người, nóng vẫn còn nóng”.

Người bị khô Dạ dầy hoặc bị nóng lâu ngày, trong ngoài cảm thấy khô ran, hay ra mồ hôi nhiều, hoặc đang tháo mồ hôi, không ăn gừng sống nhiều hoặc ăn lâu ngày, dễ sinh đau mắt hoặc bệnh trĩ.

Gừng sống giã lấy nước uống chữa cảm gió, cảm nắng, cảm lạnh. Nước gừng sống cũng tiêu tan đờm rãi, đẩy khí nóng chất thải xuống, tống ra ngoài.

Nước gừng sống uống với nước trà thì tiêu đờm nóng, uống với nước bán hạ thì tiêu đờm lạnh, hòa với mật ong thì tiêu thức ăn nóng lạnh lình xình trong bụng.

Gừng sống 2 lạng, phụ tử 1 lạng, sắc với 5 bát nước nấu kỹ còn 2 bát, chia làm 2 lần uống, chữa đờm tích tự nhiên ngăn lăn như trúng gió.

Gừng sống nhai kỹ, gọt sạch, cắt ra từng miếng, ngậm nhai từ từ, nuốt rồi nhả bã, chữa sốt rét nóng lạnh, ho có đờm.

Gừng sống 5 lạng và nửa cân kẹo mạch nha, nấu kỹ, ăn kết hợp chất ấy, chữa ho lâu ngày không khỏi. Thuật dưỡng sinh ngày xưa cũng dùng phương pháp này.

Gừng sống giã nát nấu nước tắm cho trẻ em, chữa bé ho lâu ngày. Đừng để nước vào tai, mắt, mũi.

Gừng sống thái ra vài 3 miếng, ngậm nhai từ từ trong miệng, nuốt nước xuống, chữa chứng khí nghịch đưa lên khó chịu, hoặc ói ra nước hoài.

Gừng sống 5 lạng, 4 bát nước lã, nẫu kỹ còn 2 bát, chia làm 3 lần uống, chữa đau bụng nóng loạn, bứt rứt trong người.

Gừng sống 3 lạng, giã nhỏ, nấu chín với 1 bát rượu, uống nóng. Bên ngoài dùng gừng sống giã nhỏ đắp vào chỗ bụng đau. Chữa bị lạnh, đau bụng tới nỗi chuyển gân co rút vào bụng, quằn quại muốn chết.

Gừng sống 1 cân cho vào 7 bát nước, nấu kỹ còn 2 bát, chia ra uống 3 lần, chữa đau bụng đầy hơi, to chướng lên, muốn ói không ói được.

Gừng sống sắc với táo tầu uống, hòa trung tiêu, bổ tỳ khí. Nấu với rễ thược dược, ấm kinh mạch, tán hàn, nấu với tre trúc non, làm tan đờm nóng. Nấu với bán hạ, tan đờm lạnh.

Gừng sống 1 lạng (nướng sơ) giã lấy nước, phụ tử 3 đồng tán ra bột, 2 thứ hòạ vào, nấu ấm lên uống, chữa trúng lạnh, tay chân và bụng lạnh run, ói mửa, chuyển gân co rút.

Gừng khô 1 lạng, quế nhục 2 lạng, quế chi một lạng, đâm nát cả 3 thứ ngâm vào nửa lít rượu, để 1 ngày (24 giờ), lược bỏ xác, lấy nước cho thêm 1 lượng đường, đun sôi quậy đều tay, uống mỗi lần 2 muỗng cà phê, chữa trúng gió, trúng lạnh, thình lình ngất xỉu, đau bụng, ói mửa.

kho thực phẩm với củ gừng

KHƯƠNG Bì là vỏ củ gừng, điều hòa Dạ dầy, hành thủy, chữa phù thũng trướng mãn.

TỬ KHƯƠNG là đầu củ ngọn non mới nhú ra, sắc tía, chữa trị cả trăm thứ tà khí.

BÀO KHƯƠNG là gừng bọc giấy ướt nhiều lớp nướng, tiêu khí độc, thức ăn độc.

CAN KHƯƠNG là gừng thật già, rửa sạch, để nguyên vỏ, phơi khô, rất cay, rất nóng, đuổi hàn khí, tà khí, ấm kinh mạch, làm khô khí ẩm trong người, tiêu đờm chống ói.

HẮC KHƯƠNG là gừng già, nướng cháy đen vỏ ngoài, nóng và cay cực đại, chữa dương khí hư, huyết hư, sản phụ khí hư huyết kém.

Can khương hợp với hắc phụ, trợ dương, cứu mạch, thông tâm khí, đuổi khí ẩm lạnh, làm ấm máu hàn

Một số loại rau chữa bá bệnh

LÁ MƠ (THÚI ĐỊT)

Lá mơ tính ấm, vị đắng hôi hơi cay và bùi ngọt, không độc. Lá mơ làm ấm Dạ dầy, thông hơi, tiêu thực, tiêu sưng thũng, mạnh âm đạo, trị bệnh đường ruột. Dây và lá có nhiều nhựa trắng, bổ khí, sinh tinh và sát trùng.

Lá mơ giã lấy nước uống hoặc thái nhỏ quậy với trứng gà, chiên ăn, chữa kiết lỵ ra máu. Chiên với dầu đậu nành (ít chất béo) hoặc tráng trên lá chuối, không được chiên bằng mỡ, vì bệnh kiết lỵ phải kiêng mỡ.

Dây và lá mơ rửa sạch, sắc lấy nước cốt uống, chừng một bát (chén), chữa viêm ruột, đại tiện ra đờm khô như hạt đậu phộng, hoặc như đờm khi viêm họng, Phổi.

Lá mơ giã nát, đắp vào chỗ sưng đau vì bị sâu bọ cắn.

Dây mơ, rau dệu, hạt đậu săng, củ bồ bồ, cây ngũ trảo, lá tía tô, lá ngọc anh, vỏ quýt đều 2 đồng, sắc uống chữa đau bụng vì no hơi, đầy bụng, khí uất, ăn không tiêu.

NGÒ TẦU (MÙI)

Ngò tầu tính ấm, vị cay chua thơm, không độc. Ngò tầu làm ấm dạ dầy, thông hơi, tiêu thực, trừ ác khí, giải độc, chữa phong nhiệt nổi mụn trên đầu mặt, thoát giang.

HẠT NGÒ

Hạt ngờ đâm nát lấy nước cốt, vừa uống vừa bôi vào mụn đỏ nổi trên mình trẻ em, chữa phong nhiệt, sưng độc, nóng ngứa.

NGÒ TÂY (MÙI GAI)

Mùi gai tính bình, vị cay thơm, không độc. Mùi gai làm ấm Phối, thông hơi, giải nhiệt, chữa cảm nóng ho. Mùi gai lấy cả hoa và lá, rửa sạch, sắc uống thay trà, uống xen kẽ với nước cam tươi, chữa đau Gan, da vàng.

Mùi gai, hoa vạn thọ, lá chanh, rễ dâu tằm, bạc hà, cườm gạo, đậu săng, rau tần lá dầy, cam thảo đất, tất cả bằng nhau, sắc uống, chữa ho khan rát cổ không đờm.

Mùi gai, kiến cò, rau tần lá dầy, tía tô, rễ chỉ thiên, cỏ màng chầu, củ nghệ đều 2 đồng, vỏ quít và cam thảo đất 1 đồng rưỡi, gừng sống 3 lát, sắc uống, chữa ho gió nhiều đờm.

RAU RĂM

Rau răm tính ấm, vị cay hơi chua, không độc. Rau răm giải độc, thông hơi, chữa chướng khí làm đau bụng. Đàn bà mới có thai không ăn nhiều rau răm, có thể làm sẩy thai.

Rau răm 3 đồng, giã nát hòa với rượu, vắt lấy nước uống chữa sản hậu ứ nghẹn nơi ngực.

Rau răm, rau trai, rễ lức, cỏ mực, từ bi, cây đậu săng, hoa sen trắng, tóc tiên, trắc bá diệp đều 2 đồng, cam thảo một đồng, sắc uống chữa huyết hư, kinh nguyệt ra dây dưa, bụng nặng đau.

Rau răm và củ riềng đều 2 đồng, giã nát hòa vào xăng hoặc dầu lửa, vắt lấy nước, bôi vào chỗ phong ngứa, lang ben, lác khô, lác ướt, bạch biến.

rau răm

RAU TẦN

Rau tần tính ấm, vị cay thơm, không độc. Rau tần thông Phổi, giải cảm, chữa nhức đầu sổ mũi, trừ phong thấp nhức mỏi.

Rau tần 4 đồng, bạc hà 3 đồng, gừng sống 3 lát, đường phèn 1 cục và nửa bát nước. Chưng chín uống, chữa cảm ho nhiều đờm.

Rau tần, trắc bá diệp, bạc hà đều 2 đồng, rễ lức 1 đồng, thần sa 5 phân. Tất cả sao vàng hạ thổ (úp xuống đất sạch để khử độc), tán ra bột, uống với nước, mỗi lần 1 đồng, ngày 3 lần, chữa trẻ em ho suyễn hoặc ho ói sữa không dứt.

Bổ sung một số loại rau vào thực đơn hỗ trợ sức khỏe của bạn

RAU MUỐNG

Rau muống tính bình, vị ngọt, giải độc do thuốc, mát da thịt. Rau muống có thể ăn sống, luộc, xào, nấu canh, chung với thịt heo, thịt bò, tôm, cua, cá,…

Rau muống tím gần giống insulin, có thể hạ đường trong máu. Nhưng người tì vị hàn không nên ăn rau muống có thể co rút cẳng chân, vì mạch máu gặp nóng thì thông, gặp lạnh thì bế. Do đó người già yếu suy nhược, ăn rau muống thì khí huyết không vận hành, dễ bị rút gân.

Người có mụn nhọt mới vỡ hoặc có vết thương không ăn rau muống. Người đang uống thuốc Đông y cũng phải kiêng, vì đôi khi trong thang thuốc có vị độc, lấy độc trị độc mà một vị bị giải thì thang thuốc hết hiệu nghiệm.

Rau muống giã lấy nước cốt, pha vào chút rượu giúp sản phụ khó sinh.

Rau muống 60g, râu ngô 30g, nấu nước uống trị bệnh tiểu đường.

Rau muống, rễ tranh, gừng xay, hột mã đề, râu trai, cây dâu tằm, rễ và lá muồng (sao khô), vỏ quít, rễ dừa non, đều 3 đồng, thêm 3 lát gừng sống, sắc uống chữa phong nhiệt, uất khí, sưng thũng, tiểu tiện không thông.

Rau muống đọt, đọt nrò đều 2 đồng, cua đồng 2 con, và cục muôi đâm nát, chế giấm vào xào nóng lên, đắp vào chỗ sưng đau do phong nhiệt, sưng thũng.

RAU NGỔ

Rau ngổ, tính ấm, vị đắng the, không độc, ấm Gan, hành huyết, thông hơi, điều hòa khí.

Rau ngổ sống giã lấy nước uống, hoặc nấu canh ăn, chữa huyết trệ, khí ngưng làm đau bụng, hoặc khí uất sinh ho, và giúp tai mắt sáng.

RAU OM

Rau om tính bình, vị đắng nồng, không độc, thông tim phổi, hạ đờm, giải phong nhiệt, hạ huyết.

Rau om và đậu trắng ngâm mềm 3 đồng, tre non và lá đinh lăng 2 đồng. Tất cả xay giã nát quậy vào nước dừa xiêm 1 trái, lọc lấy nước uống, giải ban độc và độc nội làm nóng mê sản.

Rau om đọt 3 đồng, ngải đen 2 đồng, xay giã nhuyễn, quậy với nước trà nóng, lọc lấy nước uống, chữa ban nhập lý, tay chân bứt rứt.

rau sống các loại

RAU RÚT (NHÚT)

Rau rút tính hàn, vị ngọt lạt, không độc, mát Phổi, chữa tim nóng làm đau ngực, tim hồi hộp đập mạnh, thông huyết mạch, điều hòa Dạ dầy, thông thủy đạo. Dạ dầy tốt càng tốt hơn. Dạ dầy yếu làm lạnh bụng, trướng đầy, rau rút sê giúp tiêu thực. Những người chân tay yếu, đi lại khó khăn, không nên ăn rau rút, vì tính nó tiêu hao.

Rau rút, cây dâu tằm, cây đậu săng đều 3 đồng, dền tía, tóc tiên, bù ngót, sâm biển, cườm gạo, hạt sen, đọt tre non đều 2 đồng, cam thảo, từ bi 2 đồng, sắc uống, chữa tim nóng hồi hộp đập mạnh.

Rau rút 5 đồng giã nát với một cục muối, vắt lấy nước uống, chữa đẻn cắn. Nếu độc chạy vào làm buồn ngủ, dùng 3 đồng rau rút và bèo cái, thêm một miếng bầu, đốt trên lửa, xông khói vào mũi cho tỉnh.

RAU SAM

Rau sam tính rất lạnh, vị chua, không độc, bổ Gan, bổ mắt, giải độc, chữa huyết trắng, huyết trọc.

Rau sam giã sống, vắt lấy nước uống, giải các chất độc, chữa đau mắt đỏ, chữa huyết trắng huyết trọc. Giã sống đắp vào mụn đau chưa vỡ mủ.

Rau sam luộc ăn cả nước lẫn cái, hoặc ăn với cơm, bổ âm, trừ nhiệt độc, thông cửu khiếu, chữa chứng đau bụng, kiết lỵ, ra đờm và máu, lâu ngày không khỏi.

Rau sam không nên ăn quá nhiều bữa liên tiếp khi không chữa bệnh, vì tính rất lạnh, dễ động hỏa, gây buồn phiền trong bụng. Và tối kỵ thịt ba ba. Ăn bữa chung với thịt ba ba sẽ kết tủa, không thể tiêu hóa, rất khó chữa.

RAU SỐNG (XÀ LÁCH, RAU DIẾP)

Rau sống tính lạnh, vị ngọt, không độc, mát tim, trợ Dạ dầy, chữa những chứng sưng đau, đề phòng tích tụ thành mụn nhọt.

Gọi là rau sống vì thường ăn sống. Miền Nam gọi là xà lách, miền Bắc gọi là rau diếp, cuộn như bắp cải hoặc không, trắng hoặc xanh như cải thường. Rau sống có nhiều sinh tố A và C. cho nên dùng rau thật tươi, rửa nhanh hai ba nước, tránh ngâm lâu hoặc để nắng héo.

RAU THUẦN

Rau thuần tính lạnh, vị ngọt, không độc, chữa tiêu khát, thấp nhiệt, tê bại.

Rau thuần nấu canh với cá diếc, ăn hạ nghịch khí xuống, chữa ói mửa, bổ khí hư nơi đại tiểu trường.

Rau thuần sống ở bờ ao đầm nước mà không bị nhiễm độc, cho nên nó giải được mọi thứ thuốc độc. Chính vì thế không nên ăn nhiều, nó làm mất dược tính trong các thức ăn khác, hoặc đang uống Đông y thì có thể có một vài vị thuốc bị triệt tiêu tác dụng, làm hỏng cả thang thuốc.

Nói tóm lại, mỗi thứ rau có một số dược tính, muốn phòng trị bệnh hữu hiệu thì nên dùng chung với thịt cá hoặc rau khác để tăng tác dụng, như tim gan nóng mất ngủ thì xào tim gan heo với cải xanh, tim thận bất giao sinh hồi hộp kém ăn thì bữa ăn mồng tơi, bữa ăn rau rút, v.v… các rau cải khác cũng tương tự, miễn là nắm vững dược tính của từng loại.

“Câu kỷ” và thành phần hữu ích của loại cây này

CÂU KỶ

Câu kỷ vị ngọt hơi đắng, giải nhiệt, lọc máu, chữa chứng đau khớp, ngứa ngoài da, gan hư mắt mờ và bệnh tiểu đường. Lá chứa gluxit, nhiều loại axít amin. Hạt phơi khô (câu kỷ tử) có lixin, cholin, betain, chất béo, protein và axít xianhydric.

Canh lá câu kỷ + thịt trai + cà rốt trị bệnh tiểu đường do can âm hư tổn, giảm thị lực, tâm phiền dễ giận, khó ngủ, nhiều mộng, khát, nước, gầy yếu. Cách nấu: cà rôt 60g thái vừa, thịt trai 100g, cho nước vừa đủ, nấu sôi để nhỏ lửa 1 giờ, cho thêm 60g lá câu kỷ tươi nấu 10 phút, nêm gia vị vừa ăn.

câu kỉ

Câu kỷ tử + thịt thỏ nấu cách thủy, hạ đường và Cholesteron trong máu. Cách nấu: câu kỷ 20 hạt, thịt thỏ 250g, nấu cách thủy lửa nhỏ, thêm muối vừa ăn hoặc uống nước.

Câu kỷ tử + thịt gà dùng cho người tiểu đường cho Gan thận hư tổn, sinh choáng váng, râu tóc bạc sớm, mắt mờ, đau lưng, đi tiểu đêm nhiều. Cách nấu: câu kỷ tử 30g, thịt gà 60g, Hoài sơn 30g, một ít hồng táo (bỏ hạt), gừng sống cho tất cả vào nồi đun sôi rồi để lửa nhỏ 2 giờ, nêm muối vừa ăn. Người tiểu đường do tì thận hư, không dùng thang này.

Cháo câu kỷ tử hạ đường trong máu, đau mỏi lưng. Gạo trắng 100g gần chín thì cho câu kỷ tử 30g vào nấu thật sôi là ăn được.

Câu kỷ tử 100g, thịt nạc heo 500g, xào với dầu mè, bổ máu, tăng thị lực, đề phòng bệnh tiểu đường và cao huyết áp.

Một số loại củ mang dược tính hữu ích

CỦ ẤU (QUẢ ẤU)

Củ ấu tính bình, vị ngọt, không độc, có thể thanh nhiệt, giải độc, an trung tiêu, bổ Ngũ tạng, nhẹ mình. Củ ấu non có thể ăn sống, củ già luộc, ăn bao nhiêu cũng được và ăn rồi không thấy đói, thích hợp cho người đi đường xa.

Đúng ra phải gọi là quả ấu như miền Nam vì nó là quả cây ấu sống dưới nước. Nhưng vì nó chứa tinh bột và luộc ăn như các loại củ, nên xếp chung vào loại củ.

món cục lạ và ngon làm từ củ ấu

CỦ CẢI

Củ cải tính bình, hơi ấm, vị cay ngọt, bổ Phổi, ích khí. Củ cải sống, giã vắt lấy nước uống, đưa khí lên. Củ cải nấu chín ăn, đưa khí xuống. Nhờ tính bình hơi ấm, vị cay và ngọt, củ cải tiêu đờm, tiêu thực, tan huyết ứ, lợi đại tiểu tiện, giải độc rượu, trừ hàn the tích đọng.

HẠT CỦ CẢI chủ trị Phổi và Dạ dầy. Dùng sông đưa khí lên, sao chín hạ khí xuống, sắc nửớc uống, chữa phong đờm, trị phong hàn, ho, kiết lỵ. Người khí hư kiêng dùng.

HOA CƯ CAI ngâm với bã rượu ăn, làm sáng

mắt.

LÁ CỨ CAI luộc ăn thay rau, đồng thời giã lá hoặc cây sống, đắp lên chỗ sưng đau ứ huyết vì bị đánh đập hay té ngã. Lá giúp lợi tiếu, chữa khan tiếng, xuất huyết trong ruột, suyễn ở người già.

củ cải cuộn thịt

CỦ SẮN DÂY (CÁT CẢN)

Củ sắn dây tính mát, vị ngọt hơi the, không độc. Củ sắn dây có thể luộc hoặc phơi khô. CAN CÁT lấy từ những củ mập chắc, cạo sạch vỏ, ngâm nước 1 đêm, rồi thái thành miếng phơi khô. CÁT CẢN là củ sắn dây, củ cạo sạch vỏ, chà, xay, hoặc giã nhuyễn, lọc bỏ bã để nước bột lắng xuống 1 đêm, rồi gạn nước ở trên đi, cho nước sạch vào, lại quậy và lọc bỏ xác bã đi. Mỗi ngày phải thay nước và lọc lại một lần cho bột không bị chua, bột chua không dùng. Gạn lọc kỹ hàng ngày cả tuần hoặc cả tháng, tùy nước và đất trồng, khi thấy bột trắng và nước ỏ’ trên trong như nước mới cho vào, lúc ấy mới đem sấy hoặc phơi khô.

Dược tính của bột sắn khá cao, có thể uống sống với nước đường, hoặc nấu chín. Bột sắn giải nhiệt, giải độc, tăng dương khí, sinh tân dịch, trừ tiêu khí, lợi tiểu. Bột sắn là vị thuốc đi vào kinh Túc Dương Minh, giải nhiệt trong cơ thể và khí nóng ngoài da, chữa thương hàn, mắt đỏ, mũi nghẹt, ngực hay bụng nóng uất.

CỨ SẢN DÂY giã sống, vắt lấy nước uống, chữa các chứng nóng sôt do thời khí. Phụ nữ có thai bị nóng quá sinh xót ruột, khát nước, có thể uống bột sống hay củ giã sống cũng như nhau.

LÁ SĂN DÂY giã nhỏ, bó vào chỗ bị sâu bọ cắn để khử độc, rút độc ra.

HOA SĂN DÂY giã lấy nước uống, giải độc rượu. Hoa phơi khô, tán ra bột, uống với nước sôi, mỗi lần chừng một muỗng cà phê, giải say rượu.

Củ sắn dây và thăng ma đều 3 đồng, rễ thược.

bột sắn dây

Dược tính của cà chua: bổ máu, bổ tim, mát gan, giúp tiêu hóa

CÀ CHUA

CÀ CHUA tính mát, vị chua ngọt, không độc, có thể ăn sống hay nấu chín, có thể ăn riêng hay trộn lẫn với thịt cá rau đậu. Cà chua bô máu, bổ tim, mát gan, giúp tiêu hóa, nhiều sinh tố A và nhiều chất kháng độc, cho nên thường nấu kèm với các thực phẩm khác, vừa ngon, vừa bổ, lại khử độc trong thịt cá rau đậu.

Phụ nữ sau khi sinh, mất máu nhiều, cần ăn thịt bò với cà chua, nhưng phải bỏ hết hạt, vì hạt cà chua không tiêu, có thể làm đầy bụng.

Cà chua giải độc nắng, khát nước nhất là mùa hè nóng nực.

Cà chua đẩy mạnh tiêu hóa, giúp Dạ dầy suy yếu làm việc tốt hơn, dịch vị điều tiết nhiều và nhanh hơn.

canh cà chua

Cà chua cũng giảm chứng căng mạch và bớt nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Cà chua xay nát, lược bỏ hột, cho vào đường uống, giúp trẻ em vả người lớn sáng mắt, mát thận gan, mát máu, mạnh tim.

Mỗi sáng ăn sống 2 trái cà chua tươi, trị tiểu đường, cao huyết áp, mất ngủ, xuất huyết đáy mắt.

Trong toàn bộ rau quả, không thứ nào tốt hơn cà chua, nhưng ăn quá nhiều sẽ bị phạt hỏa, sưng phù. Món ăn cho nhiều cà chua cũng khó ăn, khó tiêu, mất ngon, mất bổ vì cà chua mang âm tính.