Dược tính của hạt ý rĩ

Ý RĨ

Hạt ý rĩ có dược tính cao và đắt tiền, cho nên thường dùng làm vị thuốc hơn thực phẩm.

Ý rĩ chủ trị những khí ẩm ướt mà lại nóng nực trong người, khiến gân co quắp, khó co duỗi, và những bệnh phong thấp tê bại, chân tay mất cảm giác, mất cử động. Ý rĩ cũng thông trường vị, lợi tiểu, chữa sưng tay thũng chân, da nứt nẻ như vẩy cá, bàn tay bàn chân bong tróc từng lớp như thay da. Các chứng ẩm thấp ở xứ lạnh, thường dùng Thương Truật, bạch truật và các thuốc nóng để trị liệu, nhưng ở xứ nóng như Việt Nam, khí hậu vừa ẩm vừa nóng, nếu dùng các thuốc nóng như trên thì càng làm nóng thêm, bệnh không hết mà nặng thêm. Chỉ có ý rĩ chà sạch vỏ, sao vàng chung với gạo nếp, nhặt nếp ra, chỉ lấy ý rĩ giã thành bột, nấu cháo chung với hạt sen, khoai mài ăn vừa ngon vừa bổ vừa mát.

Ý rĩ chả sạch vỏ, giữ nguyên sắc trắng, nấu cháo ăn, chữa các bệnh Phổi như khô Phổi, nóng Phổi, ho khan, ho đờm, có mùi thối hay lẫn màu hồng. Theo Đông y, trị Phổi không thuốc nào bằng ý rĩ, nó dẫn khí hư trong Phổi xuống ruột già để tống ra ngoài. Phụ nữ có thai không dùng, vì nó rút khí xuống mạnh quá, hại thai.

Các danh y Trung Quổc thời xưa đã bàn về ý rĩ khá nhiều. Nhân Quyền viết: “Ý rĩ chữa Phổi khô đau. Phế khí đưa lên hay trong Phổi có ung nhọt, ho, hắt hơi, sổ mũi, nhổ nước miếng vặt. Dùng ý rĩ nấu kỳ lấy nước cốt cô đặc uống, trị phổi sưng có độc” (Dược tính bản thảo). Mạnh sầu viết: “Ý rĩ là vị thuốc chứa cả hai thứ lạnh và ẩm cước khí rất thần hiệu” (Thực liệu bản thảo). Trần Tang Khí viết: “Dùng ý rĩ nấu sôi, nấu cơm, làm bánh, nấu cháo, ăn khỏi đói, lấy nước cốt uống khỏi khát, lại còn giết được ký sinh trùng trong bụng” (Bản thảo Thập Di). Khâu Tông Thích viết: “Ý rĩ bổ Dạ dầy, ích Phổi, trừ ẩm, thanh nhiệt, hạ khí, hòa vinh vệ, nhất là chữa xương gân không co duỗi được” (Bản thảo Diễn Nghĩa). Lý Thời Trân viết: “Ý rĩ giúp vị khí, bổ tỳ kinh, bổ Phổi, thanh nhiệt, trị phong, thắng thấp. Nấu cơm hay xôi ăn, chữa lãnh khí. Nấu nước uống, lợi thủy, chữa nhiệt lậu” (Bản thảo Cương mục). Cù Hi Ưng viết: “Ý rĩ vị ngọt hơi lạt, khí hơi lạnh, không độc. Sách Nội Kinh nói: “Những khí ẩm của đất cảm vào da thịt, làm hại huyết mạch gân xương, và những gió chướng hơi lạnh, ẩm thấp nơi đất cát, ba thứ ấy hợp lại làm cho tê bại thì có ý rĩ, tính khô chữa ẩm, vị ngọt bổ tỳ, lại thêm vị lạt tiết khí. Cho nên ý rĩ chủ trị các chứng gân xương co rút, phong thấp, tê bại”. (Bản thảo Sơ Kinh). Hoàng Cung Tú viết: “Y rĩ dùng rất công hiệu cho con người. Các sách đều chép: ở trên nó thanh nhiệt trong Phổi, ở dưới nó chữa những chứng tê thấp, sắc trắng đi vào Phổi, tính mát thanh nhiệt, vị ngọt vào Dạ dầy, vị lạt thắng ẩm. Nhưng cần biết rằng tính nó đưa lên ít, đưa xuống nhiều” (Bản thảo Cầu Chân).

Hạt ý rĩ Việt Nam to, trắng, béo, tốt, nhiều khí lực hơn các giống trồng ở nước ngoài, kể cả Trung Quốc hay Âu Mỹ.

hạt ý rĩ

Gạo tẻ bổ dạ dày, phổi và điều hòa kinh vệ

GẠO TẺ

Gạo tẻ tính bình, vị ngọt, không độc, bổ Dạ dầy, nhuận Phổi, sinh tân dịch, điều hòa kinh vệ. Gạo chủ yếu chứa tinh bột, chuyển hóa trong cơ thể thành chất ngọt, người bị bệnh tiểu đường càng ăn ít cơm, càng ít biến chứng nguy hiểm. Gạo chứa tới 75% tinh bột, 8% prôtit, còn lại là chất béo axít hữu cơ, sinh tố, chất khoáng.

Gạo tẻ nửa bát nấu cháo với gừng sống 5 lát, cháo chín mới cho 6 tép hành ta (cả rễ) và 3 thìa canh giấm ăn, quậy đều, ăn nóng, trùm mền (chăn) cho ra mồ hôi, chữa cảm mạo, nhức đầu, nghẹt mũi, đau xương sống, trừ phong tà hàn khí, thời tiết thay đổi đột ngột.

Gạo Trần Thương Mễ (thóc lúa để lâu năm) 5 đồng, bạch truật 4 đồng, hoắc hương và phụ tử đều 3 đồng, hậu phác 2 đồng, tất cả tán ra bột, trộn mật ong làm viên, 2 đồng cân, mỗi lần uống 1 viên, chữa nóng loạn sinh đau bụng thổ tả, hoặc trị bệnh huyết trắng.

Trần Thương Mễ nấu nước uống, chữa nóng loạn, tiêu khát, (đòi uống nước hoài).

bánh giò từ gạo tẻ

Đậu đỏ, đậu đen, đậu phộng, đậu nành….chữa được nhiều loại bệnh

ĐẬU ĐEN

Đậu đen tính bình, vị ngọt, bổ thận, chữa tim nóng, hạ khí, lợi thủy, tiêu thũng, giải nhiệt độc, điều hòa trung tiêu. Đậu đen hạ khí nóng trong Dạ dầy, tiêu thức ăn, trừ gió độc, cho mắt sáng, huyết mạch lưu thông. Đậu đen cùng chữa nhức đầu, mất ngủ, hai chân nhức lạnh và buồn, ê ẩm đau xương gân.

Hạt đậu càng nhỏ càng chắc càng đen thì càng tốt, nhưng không nấu chung hoặc ăn chung với thịt heo.

Đậu đen sao giòn, tán ra bột, hòa với rượu, uống ấm, chữa kiết lỵ ra máu, hoặc trúng gió tê rần.

Đậu đen nấu nước, hòa thêm chút rượu, uống ấm, chữa phù thũng dưới bụng và hai bên sườn đau mỏi.

GIÁ ĐẬU ĐEN trị phá ác huyết của phụ nữ, trừ khí nóng trong Dạ dầy, tiêu phù thũng, đầy hơi, chữa tê thấp, đau nhức xương gân, chân tay mỏi mệt. Mặt tích cực, giá đậu đen bổ khí, làm da tươi hồng.

đậu đen

ĐẬU ĐỎ

Đậu đỏ tính bình, vị ngọt hơi chua, không độc, bổ tim, trợ tỳ vị. Đậu đỏ rút giảm nhiệt, lợi tiểu, đuổi máu phong, giải nhiệt độc và độc rượu, chữa tiêu khát, ói mửa, sưng đau cơ bắp.

Đậu đỏ đâm nát quậy nước lạnh, lược lấy nước uống, chữa tiêu khát và nóng quá ra máu cam.

Đậu đỏ nấu với cá chép chữa sưng chân.

Đậu đỏ 1 bát, lá dâu tằm 1 nắm, nấu chín rồi cho gà (bỏ Gan lòng), nấu rục, ăn cả nước lẫn cái chữa ban trái nhiệt độc không giải.

Đậu đỏ nấu ăn cả nước lẩn cái trọn ngày, không ăn uống gì khác, chữa sưng phù do tỳ khí suy, thấp nhũn.

Đậu đỏ tán ra bột, uống với nước sôi chữa nhiệt độc đi tiêu ra máu vì ăn trúng thức ăn nóng quá, động hỏa.

Đậu đỏ ngâm nước cho mọc mộng, nấu với đương quy, uống lúc đau, chữa kiết lỵ.

Đậu đỏ nấu với bạch bì và rễ dâu tằm, ăn lúc đói, chữa thấp khí, tê bại, sưng phù, chân tay nhức mỏi.

Đậu đỏ tán ra bột, trộn với lòng trắng trứng gà, lăn lên mụn độc sưng nhức.

Đậu đỏ dồn đầy túi để dưới chân, ngồi đạp lăn lên trên, chữa cước khí đau chân.

Đậu đỏ 3 cân, nấu nhừ với rễ bạch mao một nắm, chỉ ăn đậu và uống hết nước, chữa chứng bụng to, hơi động là nghe tiếng óc ách, da thâm sì.

Đậu đỏ một bát, nấu với sáp ong 3 lạng, uống dốc hết, chữa chứng thủy độc.

Đậu đỏ nấu kỹ lấy nước cốt, uống từ từ, chữa người uống rượu bị nóng quá, ói mửa hoài.

Đậu đỏ tán ra bột, uống với rượu hay bia, ngày 2 lần, mỗi lần 1 muỗng canh, chữa phụ nữ lao động nặng, đau bụng như muốn hư thai.

Đậu đỏ sao khô, tán ra bột, uống với rượu hay bia, mỗi lần 2 đồng cân, chữa phụ nữ có thai mà lại có kinh.

Đậu đỏ nuốt sống 7 hạt, chữa phụ nữ có di truyền khó đẻ.

CHÁO ĐẬU ĐỎ lợi tiểu tiện, tiêu thủy nhũn, trị cước khí, chống dịch lệ nóng nảy.

HOA ĐẬU ĐỎ chữa bệnh sốt rét, phụ nữ bị âm hư hàn làm lãnh cảm (không hứng khởi), trị tiêu khí, uống rượu hay nhức đầu.

MỘNG HẠT ĐẬU ĐỎ sao khô, tán ra bột, uống với rượu, ngày 3 lần, mỗi lần 3 đồng cân, chữa lậu thai (có thai ba bổn tháng mà lại thấy kinh), hoặc thương thai (sinh hoạt tình dục quá làm hại thai, thấy ra huyết). Nếu rong huyết là triệu chứng hư thai chứ không phải thương thai, cần nằm nghỉ lâu dài và mời ngay bác sĩ hoặc lương y chẩn đoán, điều trị bằng thuốc.

LÁ ĐẬU ĐỎ nấu nước uống, giải nhiệt, chữa chứng đi tiểu luôn, và mỗi lần tiểu chỉ ra mấy giọt. Tiểu nhiều có thể là bệnh tiểu đường, không trị bằng lá đậu, dù đậu đỏ, đậu xanh, hay đậu đen mà phải tới bác sĩ.

cháo đậu đỏ

ĐẬU NÀNH

Đậu nành tính mát, có vị ngọt hơn mặn, bổ Dạ dầy, hạ khí, làm trung tiêu khoan khoái, nhuận trường, giúp đại trường làm việc tốt, tiêu thủy trường, tan khí độc trong máu hay do rượu.

Đậu nành có tới 41 % chất đạm, 18% chất béo. Nhà dinh lưỡng học Maurice Lust chủ trương pha sữa đậu nành vào sữa bò để nâng cao mức globuline lên gần với sữa mẹ, nhờ đó trẻ thơ dễ tiêu hóa và hấp thụ tốt hơn.

BỘT ĐẬU NÀNH ăn hơi no, cung cấp 20% lượng đạm cần cho cơ thể mỗi ngày, thích hợp cho tuổi trẻ đang độ tăng trưởng (dưới 25).

SỮA ĐẬU NÀNH có thể giải quyết một nửa lượng đạm cần trong 1 ngày. 100g sữa đậu nành cho 3,15g chất đạm, 3,10g chất béo, 3,10g chất ngọt và 1 số canxi.

ĐẬU PHỤ là đậu nành cô đặc do men chua, tương tự như caséin cô đặc sữa bò thành pho mát. 100g đậu phụ có 10.9g chất đạm, 5.4g chất béo, 0.7g chất ngọt, l00mg canxi, 83mg sất, 0.1mg sinh tố Bl.

CHAO là đậu nành chế biến. Ngoài lượng đạm từ 8-10%, chao cũng có chất béo và các dưỡng chất khác, với một lượng muối ăn đáng kể. Chao dễ tiêu và có thể để lâu như mắm.

TƯƠNG được chế biến từ nhiều loại đậu, nhưng thường là đậu nành, vì thế đậu nành còn có tên là đậu tương.

Đậu nành được ủ lên men, chuyến hóa thành pepton và axít amin dễ tiêu. Ngoài chất đạm, trong tương còn có chất béo và chất ngọt. 100g tương có từ 12-18% chất đạm và từ 3-6% chất béo, chất ngọt không cố định nhưng thường nhiều hơn chất khác.

NƯỚC TƯƠNG cùng chế biến từ đậu nành, có hương vị riêng, không nặng mùi và mặn như nước mắm, dễ làm nước chấm hơn, khỏi pha chế.

Người đau thận không nên ăn uống đậu nành.

đậu phụ

ĐẬU PHỘNG (ĐỖ LẠC)

Đậu phộng tính êm, vị ngọt bùi, bổ Phổi và Dạ dầy, thông kinh mạch, nhuận trường, nhuận huyết, thanh hỏa, an tạng phủ.

Đậu phộng rang chín ăn hàng ngày, chữa phản vị, sáng ăn chiều ói, không tiêu nạp. Nó cũng trừ táo nhiệt vả táo bón. Đậu phộng luộc ăn ngon và bổ, nhưng dễ bổc nóng và sinh đờm. Người già âm hư hỏa thịnh không nên ăn nhiều. Trẻ em ăn nhiều cũng không tốt.

Đậu phộng chứa rất nhiều dầu, và dầu đậu phộng có giá trị dinh dưỡng cao. Bã dầu còn gọi là khô, dùng làm thực phẩm gia súc hoặc bón cây rất tốt.

Lượng đạm trong đậu phộng vừa cao vừa có tỷ lệ tương đối quân bình giữa các axít amin cần thiết. Trong 100g đậu phộng có 0.99g lysine, 0.30g tryptophane, 1.68g phénylalanine, 0.77g thréonine, 1.29gvaline, 1.76g leu- cine, 0.88g isoleucine, 2.72g arginine, 0.58g histidine, và 0.39g méthionine.

GIÁ ĐẬU PHỘNG bổ dưỡng cho người điều trị lao phổi, bớt bổc nóng và bớt sinh đờm.

đậu phộng

Ốc nghêu chữa các bệnh về tim và đau nhức, vàn da

ỐC

Các loại ốc đều tính lạnh, vị hơi ngọt, không độc (trừ ốc sên). Ốc có nhiều chất đạm nhưng khó tiêu. Ốc có thể tiêu sưng thũng, trừ phong thấp, làm trơn ruột, thông đai tiểu tiện, và chữa chứng vàng da.

Ốc bươu, ốc hột, ốc gạo, luộc hay nấu ăn đều ngon vả bổ. Nếu chỉ sử dụng dược tính của ốc thì cần hợp dụng:

–           ỐC BƯƠU đâm tươi ba con, hòa với muối, đặt dưới rốn, chữa bí tiểu tiện.

–           ỐC VẶN đốt cháy, tán ra bột, uống với rượu ấm, chữa uất nhiệt, đầy bụng, trường phong hạ huyết. Đâm tươi với ít muối, đặt dưới rốn, chữa bí tiểu tiện. Đâm tươi với ít phèn chua, thoa bôi lên chỗ sung thũng hay ghẻ độc.

Ốc bươu 4 con, ốc vặn 10 con, đâm nát với rượu, lọc lấy nước uống, chữa hoàng đản.

–           VỎ ỐC VẶN đốt cháy, tán ra bột uống, chữa đau bụng và di tinh.

ốc

Sò tính bình, vị ngọt, chữa những chứng tim và lưng đau vì nhiễm khí lạnh, bồi bổ Ngũ tạng, làm tươi nhan sắc, tiêu thức ăn, giải đờm, tan ứ huyết. Sò lông có độc, động phong. Sò huyết ngon và lành, chỉ có độc tùy nơi tùy mùa. Danh y Trần Tang Khí viết: “thịt sò ôn trung, tráng dương giúp bộ tiêu hóa” (bản thảo Thập Di Bản).

Ăn sò nướng phải để hết hơi lửa, chấm muối chanh, sở dĩ không vội ăn, vì lỡ gặp con có chút độc, phải chờ khí độc bay đi theo khói. Muối chanh cũng là để khử độc, ngon miệng.

sò

NGHÊU (ngao)

Cùng họ với sò, giải độc rượu, chữa tiêu khát, chữa mụn nhọt sưng đau. Nhưng nghêu hay sò cũng chỉ là món ăn chơi, ăn nhiều hoặc hay ăn đều không tốt.

nghêu

Tác dụng trị bệnh của ếch và lươn

ẾCH

Thịt ếch tính lạnh, vị ngọt, không độc, chữa người khí không đủ, hay đau yếu, trẻ em bị lở da thối thịt.

món ếch

LƯƠN

Thịt lươn trừ phong thấp, bổ hao gầy, bổ trung tiêu, lợi huyết. Máu lươn tăng huyết, nó còn giúp người yếu sinh lý. Thanh niên yêu đương sự, dùng thuốc ôn bổ làm bột luyện với máu lươn, uống với chút rượu hoặc bia trước bữa ăn tối, sẽ tăng cường sinh lực và bền sức.

Máu đuôi lươn chữa trúng gió méo miệng. Méo bên này thì bôi bên kia, khi trở lại bình thường thì rửa đi ngay. Nếu có chút xạ hương pha thêm với máu đuôi lươn thì tốt hơn.

Da lươn đốt cháy thành than, uống với rượu lúc đói, chữa đàn bà bị sưng vú đau nhức. Nó còn chữa trĩ ngoại, ghẻ lở, hắc lào, ngứa da, sần sùi da vì gãi quá.

Những con lươn đen, hoặc trên đầu có chữ thập, dưới cố có đốm trắng, hoặc thả xuống đất mà ngóc đầu lên như rắn, là những con lươn có độc, không ăn và cũng không dùng máu, dùng da.

nón lươn

Những dược tính ở thịt vịt và thịt chim

THỊT VỊT

Thịt vịt tính bình, vị ngọt. Vịt vừa sống dưới nước, vừa sống trên đất, vừa ăn tôm cá cua sò ốc hến, vừa ăn thóc lúa, cho nên bổ dưỡng lục phủ ngũ tạng. Nuôi trên đất thì mùi hôi nặng, nhưng tính chất và công dụng thịt vịt giống nhau. Trứng vịt tanh hơn trứng gà nhưng dưỡng chất tương đương, và hột vịt lộn vừa bổ, vừa lành, vừa ngon miệng.

Giá trị dinh dường của thịt vịt tương đương với các loại đồng chủng như thịt ngan (vịt xiêm), thịt ngỗng v.v… Thịt ngan có độc. Ngan trắng ít độc hơn ngan đen. Người đau hoặc đang bị mụn mưng mủ không ăn thịt ngan, có thể đau nhức thêm hoặc tái phát bệnh.

Tiết canh vịt giải nhiệt, bổ máu, làm cho máu dễ lưu thông. Máu ngan, máu ngỗng có thể giải một số chất độc. Uống tiết cắt ra đang nóng sẽ ói chất độc ứ đọng trong Dạ dầy cùng với đờm và thực phẩm. Nhưng khi chất độc đã thấm vảo máu thì máu ngan máu ngỗng không thể giải.

thịt vịt

THỊT CHIM

Thịt chim tính bình hoặc ấm, vị ngọt, không độc, bổ trung tiêu, ích khí, tươi mát thịt, trị gầy ốm hư hao. Người già hoặc cần bồi bổ sau giải phẫu, sau bệnh nặng, ăn cháo chim câu non vừa dễ tiêu, vừa mau lại sức. Giá trị dinh dưỡng của chim câu hay chim cút cũng tương đương, cũng ích khí sinh tinh, bớt đi tiểu, ấm lưng, cứng chân tay. Có người nói thịt chim sẻ kích dục đa dâm (dược tính chỉ nam, quyền tư, trang 1198). Nhưng nhìn chung thịt chim cũng như máu chim đều đại bổ âm đạo, tráng dương khí.

Riêng Bìm bịp và Cò còn trị phong hàn, phong thấp và các thứ cảm mạo do gió mưa thất thường, giúp thân thể nhẹ nhàng khỏe mạnh, gân xương dẻo cứng.

Trứng cút trứng chim đều hạ khí, lợi âm dương, nhưng cũng như trứng gà trứng vịt, ăn nhiều quá thì hại Gan, đầy bụng, khó tiêu.

thịt cò

Dược tính ở thịt, thận và trứng gà

THỊT GÀ

Thịt gả tính ấm, vị ngọt. Gà có nhiều giống, cho nên về bỗ dưỡng thì tương tự nhau, nhưng về dược tính thì công dụng khác nhau.

Gà trống đỏ trị các chứng máu hư của nữ giới, như huyết trắng, rong huyết,… Nó còn bổ khí huyết, ấm Dạ dầy, mạnh tỳ kinh, bổ phổi cho chung gia đình.

Gả trống trắng hạ khí, an Ngũ tạng, điều hòa tỳ vị, lợi tiểu tiện, trừ gió độc, chữa ráo khát, v.v… Con nào lông trắng như bông mà chân đen, xương đen, rất tốt.

Gà trống đen bổ tỳ vị, trị phong thấp tê bại, chữa gẫy xương, nứt xương. Gà đen chân vàng mới tốt, chân đen thì phải tăng cường dược phẩm.

Gà mái trắng bổ Ngũ tạng, nhuận Phổi, trừ lao, ích Thận, trị tiểu tiện khan rát, phòng tràng tích kiết lỵ. Bổ dưỡng cho nữ giới, nhất là các bà lớn tuổi.

Gà mái đen có thể an thai, trừ khí độc, rút mủ, sinh huyết, trị các chứng phong thấp tê bại, đau bụng, gẫy xương, sưng vú. Người mới sinh mới mổ ăn cháo gà mái đen rất bổ.

Gà mái vảng giúp dương khí, tăng tinh tủy.

Các thứ thịt gà không ăn chung với tỏi, rau cải, cá chép. Trẻ em dưới 5 tuổi chưa nên ăn thịt gà. Những người bị các chứng phong độc phải kiêng thịt gà, vì thịt gà động phong phát hỏa, nó nóng và độc với nhừng người viêm gan, phong độc.

Đàn bà bị huyết trắng hoặc hồng lâu ngày không khỏi, thử làm con gà lông trắng xương đen, dùng bạch quả, hạt sen, gạo tẻ, mỗi thứ đều 20 gr, tán nhỏ, bỏ vào bụng gà khâu lại, nấu nhừ ăn điểm tâm một mình. Ráng ăn hết. Nếu thấy bớt thì tuần sau mới ăn lại.

trứng gà

TRỨNG GÀ

Trứng gà dùng cả lòng đỏ và lòng trắng, bổ khí huyết, mát cổ họng, tan khí nóng, an thai, dễ sinh.

Lòng đỏ tính ấm, vị ngọt nấu với giấm ăn, trị kiết lỵ sau khi sinh. Trẻ em phát sốt vì buồn bực cho ăn lòng đỏ luộc chín.

Lòng trắng tính hơi lạnh, trị chứng mắt đau và đỏ, chứng nóng dưới tim (tâm hạ phục nhiệt khí).

Những người ăn uống khó tiêu hay bị thấp khớp, không nên ăn trứng gà. Tính nó sợ rượu, không nên lấy trứng gà làm đồ nhắm.

THẬN GÀ

Trị chứng thối mũi. Lấy hai trái thận vả thịt cổ đàng trước của cùng một con gà, hai thứ bằng nhau, thêm 7 hạt đậu sị (đậu đen), cho vào chảo sao chung với lòng trắng trứng gà, tất cả vo tròn như cái bánh nóng bổc khói, để trước mũi, hít khói ấy vào. Mủ ngưng chảy là khỏi.

Dược tính trong thực phẩm

DƯỢC TÍNH TRONG THỰC PHẨM

Thực phẩm tiêu hóa trong Dạ dầy, chia thành những nhóm dưỡng chất đi vào cơ thể theo luật Đồng Khí Tương Cầu. Đó là cái nhìn tổng hợp về mặt bổ dưỡng của thực phẩm, nuôi sống con người. Nhưng về mặt bảo vệ sức khỏe, khi phòng trị bệnh thì lấy dược phẩm làm chính, lấy vị khí của thực phẩm làm gốc, cho nên cần hiểu rõ dược tính của mỗi món ăn.

Thuốc có nhiều vị, toa thuốc có nhiều thuốc, cần nắm vững dược tính của từng món ăn như lương y biết rõ từng vị, bác sĩ biết rõ từng thuổc. Có nắm vững như thế thì bừa ăn mới đầy đủ, thang thuốc mới hiệu nghiệm.

dược tính của thực phẩm

Nguyên tắc quan trọng và thiết yếu là THỰC PHẨM PHẢI TƯƠI SẠCH . Rau cải không sạch, có thuốc trừ sâu tồn đọng hay chứa quá nhiều phân hóa học, nếu ăn vào thì không ngộ độc cũng tích lũy mầm bệnh. Ăn thịt ướp hàn the, ăn cá đỏ mang nhờ urê, thì đưa dần độc chất vào cơ thể. Ăn tim hay Gan heo bò bệnh là đưa bệnh từ vật sang người. Ăn thịt động vật quá già là đưa hàng đống tế bào suy thoái vào đầy Dạ dầy, bắt đầu làm việc nhiều mà ít khả năng sinh hóa. “Ăn gì bổ nấy” là ăn đồ TÔT – TƯƠI – SẠCH chứ không phải ăn uống bừa bãi. Ăn đồ bệnh đồ hư chẳng những không bổ mà còn sinh chứng sinh bệnh.

Thực phẩm lấy từ thiên nhiên có muôn loài, muôn sắc, muôn vị. Cái nhìn thực tế đứng đắn và khoa học đòi hỏi nắm vững từng món từng vị thì mỗi bữa ăn mới có khả năng phòng trị bệnh. Để dễ tìm hiểu và tra cứu, chúng ta sẽ nhìn riêng từng món trong cái chung một nhóm một loài của tổng thể thực phẩm thiên nhiên. Nói trắng ra là truy tìm dược tính trong từng món ăn theo từng loại động vật và thực vật.

Với khả năng hạn hẹp, người viết xin ghi ngắn gọn về mỗi món ăn và chỉ đề cập đến những thực phẩm thông dụng của người Việt.

Phân loại thực phẩm: nhóm rau quả

Nhóm rau quả:

Nhóm rau Quả gồm có các loại rau cải và trái cây, ăn sống hoặc nấu chín. Nhóm này cung cấp chất khoáng và sinh tố.

Rau cải ăn sống và trái cây ăn xanh hoặc chín đều cung cấp rất nhiều sinh tố và một số muối khoáng, như sinh tố A và C, chất khoáng Canxi. Để khỏi mất sinh tố, nên dùng rau cải tươi, rửa nhanh, tránh ngâm nước lâu hoặc để nắng héo. Trái cây cho nhiều sinh tố và chất ngọt.

nhóm rau quả

Các thứ rau cải và trái cây như rau lang rau dền, đậu đũa đậu ván, bí xanh bí đỏ, bầu, mướp… Phải nấu chín mới ăn được. Các loại này vẫn giữ tính chất của nhóm, nhưng khi nấu chín thường mất đi nhiều sinh tố. Vì thế luộc rau nên cho to lửa, nước sôi sùng sục mới cho rau vào, không nên để nhừ quá và cố giữ lại màu xanh. Nấu canh vừa chín là đủ.

Nhóm này không cho đạm, không cho mỡ nhưng rất cần thiết cho cơ thể con người. Thiếu sinh tố thì ăn không tiêu, kém sức đề kháng trong cơ thể. Ngoài sinh tố, nhóm này là chủ lực đưa chất khoáng phục vụ cuộc sống con người. Bữa ăn cần rau cải như thịt cá, giá trị dinh dưỡng khác nhau, nhưng cần thiết như nhau.

Phân loại thực phẩm: nhóm thịt cá đậu

Nhóm thịt cá đậu:

Nhóm thứ hai gồm có thịt, cá, tôm, cua, sò, ốc và các loại đậu như đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, đậu trắng, đậu nành v.v… Nhóm này chủ yếu cung cấp chất đạm. Trữ lượng chất đạm trong l00g thức ăn nấu cách bình thường như sau: thịt heo 19g, thịt gà 30.3g, thịt bò 18g, cá 16g, tôm 18.4g, đậu đen 24g, đậu trắng 23g, đậu xanh 23.4g.

nhóm thịt cá đậu

Rõ ràng các thứ đậu có trữ lượng đạm nhiều hơn thịt, cá. Lượng đạm trong đậu có từ 23 – 41%, trong khi trong thịt cá chỉ có dưới 20%. Đạm các loại đậu dễ hấp thụ hơn (85%), và chứa hầu hết các chất axít amin cần thiết cho cơ thể. Chẳng hạn trong l00g đậu xanh có 1.15g Lysine, 0.30g Méthionine,0.30g Tryptophane, 1.15g Phénylalanine, 0.94g Thréonine, 0.96g Valine, 1.29g Leucine, 1.05g Isoleucine, v.v… như vậy đạm trong đậu xanh có axít Méthionme cần cho quá trình chuyển hóa mỡ khử độc, bảo vệ Gan, và axít Lysine cần cho trẻ em tăng trưởng.

Số lượng 1.15g Lysine trong l00g đậu xanh là số lượng lớn. Các loại đậu khác cũng có số lượng đạm nhiều. Nhưng về giá trị dinh dưỡng thì đạm động vật hơn đạm thực vật. Chất đạm từ thịt cá, tôm cua, sò ốc, có giá trị cao hơn các loại đậu.

Bữa ăn hàng ngày cần đầy đủ chất đạm. Số lượng cũng cần nhưng phẩm chất cần hơn, tùy kinh tế gia đình.