Chức năng và những điều cần thiết về gan ở cơ thể người

 GAN

Gan lả gốc những công tác lao động, là chỗ ở của hồn, hoa của nó ở móng chân móng tay. Sung của nó ở gân. Gan làm chủ gân và con người lao động nhờ gân cốt, cho nên nó là gốc những công tác lao động trí não cũng như chân tay. Lao động trí óc vận dụng thần kinh não bộ. Lao động chân tay vận dụng đường gân thớ thịt.

Gan là tạng Dương. Hồn là tinh khí của Dương, là phần linh của khí. Trong con người, khí thuộc Dương, huyết thuộc âm. Dương không có âm thì không có chỗ dựa. Khí không có huyết thì không thể lưu thông. Gan lọc máu, chủ huyết, mà bên trong chứa Dương – khí, cho nên nó lả chỗ ở của hồn. Ban ngày, hồn đến với mắt, khiến con người nhìn thấy muôn vật. Ban đêm, hồn quay về Gan, thế là con người ngủ. Hồn không mạnh thì nhút nhát. Hồn không an thì nhiều mộng. Hồn không thể thấy bằng giải phẫu vả mộng không thế cân do bằng máy. Can tàng hồn, Gan chứa hồn. Là Dương khí tiềm ẩn trong Âm huyết.

Gan giữ nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động. Nơi con người, Âm chủ tĩnh, có vai trò thủ. Dương chủ động, có vai trò công, làm việc. Gan thuộc Kính Quyết Âm, là âm tận, cho nên có kiên nhẫn thủ thường. Nhưng âm tận thì dương sinh, thiếu dương lại thấy trong Quyết âm, Đởm sinh ra và ở trong Gan. Khi dương khí Đởm phát động thì muốn làm việc, phải làm việc. Đởm thuộc hỏa, là khí sinh ra từ Can mộc. Khi Đởm hỏa vượng thì con người không nhát sợ. Khi Đởm khí thái quá thì hành động ngang ngược, bạo tàn. Khi Đởm khí không đủ thì con người gặp việc gì cũng nhút nhát, sợ sệt.

Can là tạng dương trong âm, chủ về mưu trí. Đởm là dương sinh từ âm, chủ về quyết đoán. Cho nên khi Can khí Đởm khí đầy đủ, không cương không nhu, thì con người quyết định sáng suốt, lảm tròn phận sự.

Gan là tạng Mộc. Như cây có nhiều cành, chỗ cong chỗ thắng, Gan cũng có hệ thống gân đi kèm. Qua trung gian màn mờ, gân dính với xương bên trong và cơ bắp bên ngoài. Tất cả các bắp thịt đều có màn mỡ bao bọc vả gắn liền với hai đầu gân của cơ bắp. Can khí tiết ra từ màn bao bên trong ra tới màn bao bên ngoài. Đó lả con đường giao lưu chuyển khí giữa Gan và gân. Các chứng rút gân, co vặn, nhức giật, đều do các màn mỡ bên trong co duỗi không được vì can khí bất hòa sinh ra.

Gan lọc máu, cần có khí của Phổi chế thắng nó, Kim khắc Mộc. Gan mộc không bổc cháy đốt Tim hỏa thì khí Vị bình ổn, huyết mạch điều hòa. Nếu Phế Kim không thắng Mộc thì can hỏa sẽ bổc lên gây thành chứng hư hao, mất máu v.v… Khi gân và xương giao hòa thì móng chân móng tay cứng và nhuận sắc.

Gan mộc hợp với Phong, khí mát của trời. Nhưng nó lại ghét Phong. Mát quá thì máu ngưng trệ, đông đặc. Máu có hòa khí thì mới lưu thông điều hòa. Máu bị tà khí thì hư hao, tiêu tán. Người già trúng phong, trẻ em kinh phong, các chứng phong thấp, tất cả phải trị Gan làm gốc, tức là lấy đường huyết làm chủ. Phong là dương trong âm, là khí trong huyết. Chỉ có phong có thể sinh huyết vả chỉ có huyết mới điều dưỡng được phong. Chính vì thế mà phong sinh mộc (thiên khí sinh địa khí), mộc sinh chua (địa khí sinh vị khí), chua sinh Gan (vị khí sinh tạng khí), nhưng can ố phong, Gan ghét mát lạnh.

gan ở người

Gan là tạng chủ về huyết. Máu lưu hành không trệ, tiềm phục không động, nhờ dựa vào khí bình hòa. Nếu khí nghịch thì huyết nghịch. Can mộc uất ở dưới, Can hỏa phạm lên trên, là Can bị thương. Đường Dung Xuyên nói: “Buồn do Phổi làm chủ, quá buồn thì Kim sẽ khắc Mộc (Phổi thắng Gan). Giận do Gan làm chủ, quá giận thì can mộc bị nghịch, máu không thể an tĩnh” (Y kinh tinh nghĩa). Quá giận thì khí lên trên rồi không xuống, tích tụ nơi hông sườn, làm hại Gan. Buồn giận đều nghịch khí. Buồn thì uất bên dưới, dùng vị cay để thăng tán. Giận thì phạm lên trên, dùng vị đắng để giáng và giải. Cả hai cần dưỡng Gan để hòa khí huyết.

Gan làm chủ gân, thích vị chua và chua chạy theo Gan. Nhưng nếu bệnh Gan mà ăn nhiều chua sẽ tổn thương đến can khí. Gan thuộc dương, thời khí xuân. Nếu mùa đông không ẩn tàng thì mùa xuân không lấy gì để sinh cho nên bệnh Gan phát ra ở mùa đông. Nói khác đi, đông thiếu khí thì xuân huyết ngưng trệ, bệnh Gan sinh ra từ đó. Can khí bị thương thì ưa nói nhiều hoặc chảy nước mắt (phách lạc hồn phiêu).

Gan thuộc mộc, ứng với hướng đông, buổi sáng, mùa xuân. Can khí điều hòa thì máu lưu thông, bình ổn. Theo luật tương sinh thì Đông Phương sinh Phong, hướng đông sinh khí trời mát. Phong sinh mộc, khí mát sinh cây (Thiên khí sinh địa khí). Mộc sinh toan, cây trái sinh chua (Địa khí sinh vị khí). Toan sinh can, chua sinh Gan (vị khí sinh tạng khí). Can sinh cân, Gan sinh gân (tạng khí nuôi thể khí). Tới đây khí biến thành hình, cho nên can sinh Tâm, Gan nuôi Tim (Mộc sinh Hỏa), và được Thận nuôi (Thủy sinh Mộc, Thận nuôi Gan).

Theo luật tương khắc thì phong thương cân, phong hại gân. Táo thương phong, khô hại mát, tức là kim khắc mộc. Tân thương Toan, cay hại chua. Nộ thương can, giận hại Gan. Can thắng Tỳ, Gan thắng Dạ dầy, tức là Mộc khắc Thổ, cây hút mầu mỡ của đất, làm xấu đất. Và Gan bị Phổi khắc chế, Kim khắc Mộc, búa rìu dao cưa chặt xẻ cây.

Nói tóm lại, Gan là gốc công tác lao động, làm chủ gân, là chỗ ở của hồn. Gan lọc máu, hợp với thực phẩm có vị chua, sắc xanh, thông với khí mùa xuân, buổi sáng, hướng đông. Đối nội, Can khí nuôi dưỡng gân, thông với mắt. Can khí hòa thì mắt phân biệt rõ mầu sắc.

Bộ phận tim ở cơ thể người

TIM :

Tim là gốc sự sống. Tim chú về huyết mạch. Tim tiếp nhận khí và dưỡng chất để chuyển hóa thành máu, đưa đi nuôi dưỡng toàn thân. Theo quan điểm Đông y, Tâm tàng Thần, Con người có tri giác là do Thần làm chủ. Gọi là Thần vì nó biến hóa không thể lường. Đường Dung Xuyên ghi chú: “Thần sinh ra từ tinh khí của Thận, đi lên quy vào Tim, hợp thành quẻ Ly, Hỏa. Chính nhờ âm tinh hợp bên trong và dương tinh bảo vệ bên ngoài mà Hỏa khí do Tim chứa chất mới chiếu sáng rực rỡ để con người có thể tiếp xúc thông cảm với trời đất muôn vật. Thần chính là Tâm Hỏa được Thận Thủy giúp, cho nên xuất ra được thần minh. Khi Tâm huyết không đủ thì thần khí bứt rứt. Khi Tâm hỏa không đủ thì thần khí nhút nhát. Phong đàm nhập Tim thì thần khí bị hôn mê…” (Linh khu 8, thiên Bản – Thần).

Tim là gốc sự sống và tàng thần, cho nên Tim giữ vai trò chủ yếu trong cơ thể. Tim và Thận cùng giao nhau để làm nhiệm vụ chung. Thận sinh tinh, chủ tủy. Màn tủy thông với Tim là con đường giao lưu sự sống bên trong. Tâm hỏa có ánh sáng và sức nóng. Thận thủy nhở tủy có khả năng tiếp thu vả khuếch tán. Tâm thần lên trên đi vào Não Tủy làm cho ánh sáng chiếu tỏa trong não bộ.

Theo lý của Ngũ Hành tương sinh tương chế thì có chế mới sinh hóa. Tim thuộc hỏa được Thận thủy chế. Thận làm chủ cho sự sinh hóa của Tim, nhờ Thủy đến giao với Hỏa mà Tim sinh Huyết. Khi nào có thủy giúp hỏa thì công dụng của hỏa mới thành.

Tim chủ huyết mạch, cho nên huyết đầy đủ thì sắc mặt tươi, mạch chạy đều hòa. Máu từ tim thông xuống Thận đem vị mặn. Khi nói Hàm tẩu Huyết (mặn chạy theo máu) là thủy khí của Thận giao lên đến Tim. Bệnh huyết mạch mà ăn uống nhiều mặn là làm cho thủy thắng hỏa chứ không trợ hỏa nữa.

tim ở ngươiuf

Tim hợp vị đắng, sắc đỏ, ưa thích thực phẩm đem lại tươi mát, mang dương tính. Tim thuộc hỏa nhưng rất ghét nóng. Gan nóng đốt gân làm động kinh, co giật. Phổi nóng làm ho, khát nước. Dạ Dầy nóng làm tiêu hao thịt mỡ, bí đại tiện, nóng từng cơn. Thận nóng làm cốt khí bị tiêu, tinh khô, tủy kiệt. Thượng tiêu nóng làm tim phiền não, miệng khát, mắt đau. Trung tiêu nóng làm giảm ăn uống, thũng trướng, kiết lỵ, sốt rét. Hạ tiêu nóng làm tiểu tiện bất lợi, đại tiện bất thường. Các chứng nóng biểu hiện không giống nhau, nhưng không ra khỏi vai trò của Tim. Chính Tim là Hỏa Tạng, làm chủ điều hòa Hỏa Nhiệt toàn thân, bên trong cũng như bên ngoài. Tim sinh huyết để dưỡng hỏa. Nếu hỏa bình hòa thì thân nhiệt ổn định. Nếu hỏa viêm nhiệt thì máu trong Tim bị đốt, bị thương. Cho nên muốn trị các chứng nóng thì không thể dùng vị đắng. Đó là nhằm trị hỏa quá viêm của Tim. Mặt khác, mồ hôi là dịch của huyết, có thể giảm nhiệt cho cơ thể và bớt mặn cho máu.

Tim thuộc hỏa, thuộc tạng dương. Tâm khí gặp Phế khí thuộc âm thì vui mừng. Sách Linh Khu viết: “Thần khí có dư thì cười không thôi. Nhưng khi hỉ lạc quá mức thì sẽ tổn thương đến hồn phách”. Mã Nguyên Đài ghi chú thêm: “Nếu Tâm bị hư, tinh khí của các tạng khác nhập vảo sẽ làm hỉ thành bệnh” (Linh Khu chú chứng phát huy). Đó là tà khí hoặc u sầu sợ hãi xâm nhập trong lúc nguyên khí có chỗ bị thương tổn cho nên làm Tim sinh bệnh. Khi hỏa khí bình ôn và phát sáng thì sẽ hóa sinh huyết dịch, hợp lưu trong gân mạch. Khi huyết mạch giao lưu hài hòa thì vui mừng hiện lên nét mặt. Ngược lại, khi Tâm khí bị nghịch, hỏa bị uất, huyết bị trệ, sẽ làm tổn thương Tim.

Tâm khí thông với lưỡi. Tâm khí hòa thì lưỡi phân biệt ngũ vị, cho nên Tim là chủ lưỡi. Khí hay năng lượng biểu hiện ở trời là nóng, ở đất là hỏa, ở thế là mạch, ở tạng là Tim, ở sắc là đỏ, ở vị là đắng, ở khiếu là lưỡi. Theo quy luật tương sinh: Nam phương sinh nhiệt, hướng nam, mùa hạ, giữa trưa thì trời nóng. Nhiệt sinh hỏa, nóng sinh lửa, (thiên khí sinh địa khí). Hỏa sinh khổ, lửa sinh đắng, (địa khí sinh vị khí). Khổ sinh Tâm, đắng sinh Tim. (Vị khí sinh tạng khí). Tâm sinh huyết, tim sinh máu, (tạng khí sinh thần khí). Tới đây, khí đã thành hình, cho nên theo Ngũ Hành thì huyết sinh Tỳ, tức là Hỏa sinh Thổ, tim máu sinh Dạ dầy, và Gan sinh Tim là Mộc sinh Hỏa.

Theo luật tương khắc: Nhiệt thương Khí, nóng hại khí. Hàn thương nhiệt, lạnh hại nóng. Khổ thương khí, đắng hại Phế Khí. Hàm thắng khổ, mặn hại đắng. Khủng thắng Hỉ, lo sợ hại vui mừng. Đối chiếu vào ngũ tạng thì Tim thắng Phổi (nhiệt khổ làm hại khí), hỏa khắc Kim, và Thận thắng Tim (mặn và sợ làm hại đắng và vui), thủy khắc hỏa.

Nói tóm lại, Tim là gốc sự sống, là lẽ biến của thần. Hoa của tim ở mặt. Sung của tim ở huyết mạch. Tim là tạng Hỏa dương, thông với Khí mùa hạ, phương Nam, giờ trưa. Tim giúp Dạ dầy, thắng bớt Phổi, và bị Thận thắng bớt, được gan giúp đỡ.

Con người và môi sinh và thực phẩm liên quan cần

CON NGƯỜI VẢ MÔI SINH

Năng lượng khởi động, vận hành, và chuyển hóa vũ trụ vạn vật cũng như cuộc sống con người. Năng lượng không hình không sắc nhưng nó có thực và phải có. Nó khởi động mọi động cơ thô sơ cũng như tế nhị nhất trong thiên nhiên hoặc do con người chế tạo qua môi trường sinh học hay kỹ thuật. Nó vận hành liên tục, liên tục như một vòng ngọc “chung nhi phục thủy, như hoàn vô đoan”, xoay tròn mà trở lại từ đầu, như vòng ngọc không đầu mối (Sách Nội Kinh).

Trong thiên nhiên, năng lượng có nhiều nguồn: năng lượng mặt trời, năng lượng gió nước trên mặt đất, năng lượng trầm tích trong lòng đất v.v… Năng lượng vận hành theo quy luật tự nhiên riêng biệt, nhưng lại tương quan chặt chẽ với nhau. Tương quan có khi sinh, khi khắc, khi chế, khi hóa. Năng lượng mặt trời cho thảo mộc quang hợp biên nhựa nguyên thành nhựa luyện nuôi sống và phát triển chu kỳ sinh thái mỗi cây.

Năng lượng mặt trời cũng giúp con người sống và làm việc tự nhiên, phòng và trị bệnh ngoài da cũng như nội tạng. Nhưng chính năng lượng mặt trời có thể hủy hoại cuộc sống thiên nhiên hay con người nếu nó bị hủy hoại hoặc biến chất v.v… Mọi nguồn năng lượng giao lưu hài hòa thì môi sinh an bình thư thái. Nếu trục trặc mặt này mặt khác thì dông bão, khô hạn, lụt lội, động đất, mất mùa, bệnh tật, dịch, loạn v.v… Môi sinh trục trặc mặt này kéo theo trục trặc mặt khác, nảy sinh trục trặc khác nữa.

Trong con người, năng lượng cũng có nhiều nguồn, y học cổ truyền gọi là Tâm khí, Can khí, Phê khí, Tỳ khí, Thận khí, v.v… gọi là khí hay Năng lượng cũng chỉ là một thực thể đồng nhất theo cách diễn đạt kiến thức, lối nhìn và ngôn ngữ mỗi thời, mỗi nơi. Con người sống trong và sống với môi sinh, đầu đội trời chân đạp đất, hít thở, ăn uống, hấp thụ năng lượng hòa nhịp cảm thông với trời đất, chịu đựng mọi thay đổi thịnh suy của thời tiết, của khí huyết, của môi sinh và xã hội, do thiên nhiên hay con người tạo ra. Năng lượng bên trong cũng như bên ngoài giao lưu hài hòa thì cuộc sống an khang thịnh vượng. Trục trặc trong cơ thể thì con người bệnh tật, tử vong. Trục trặc trong thiên nhiên thì thiên tai hoạn nạn. Trục trặc trong xã hội thì chiến tranh thù hận v.v…

Sách y học Nhập môn của Lý Diên viết: “Sinh ra thiên, sinh ra địa, sinh ra nhân, sinh ra vật, tất cả đều do nguyên khí làm chủ” (Tiên thiên đồ thuyết). Nguyên khí của sự sống trong thiên nhiên, ở đó, thân thể con người là dạng hữu hình quý nhất, cùng vận hành theo nhịp chuyển hóa của quy luật tự nhiên trong vũ trụ vạn vật. Thiên văn bộc lộ vẻ đẹp của Nhật Nguyệt, Tinh Tú. Địa hình phơi bày vẻ đẹp của Núi Sông Muôn Vật. Nhân văn phát triển cuộc sống con người và xã hội, cả vật chất lẫn tinh thần, cả khoa học lẫn văn hóa, cả sinh lý lẫn tâm linh. Thiên Địa Nhân có những biểu hiện khác nhau, nhưng tất cả đều ĐÔNG KHÍ TƯƠNG CẦU. Nóng lạnh trong một ngày một năm, mặt trời mặt trăng mọc và lặn, nước sông nước biển lên và xuống, cây cỏ nẩy mầm và sinh hoa kết trái, gió bão đi và đến, sinh vật bơi lội, bay nhảy, hay bò rúc, tất cả đều có quan hệ mật thiết với sự sống con người. Bất cứ bất hòa nào giữa con người với môi sinh đều gây ra bệnh tật tai họa. “Gió mưa, nóng lạnh, ăn uống thất thường, làm cho khí huyết phân ly, âm dương phát tán, kinh lạc rối loạn, mạch đạo bất thông, huyết khí không vận hành tự nhiên được”. (Linh khu 28).

Trời cao đất thấp, nhưng năng lượng trời đất luôn có quan hệ lên xuống nhịp nhàng từng giờ, từng ngày, từng tiết, từng tháng, từng quý, từng năm, cho đến lục thập hoa giáp, tới các thiên niên kỷ. Thực vật điều hòa nhịp thở thiên nhiên, lá phổi chuyển hóa Dưỡng khí và Thán khí, ổn định phong độ. Động vật tương tác tương hợp với môi sinh. Tất cả có giao lưu và ảnh hưởng tới cuộc sống con người. Tất cả đều hiện hữu và tan biến theo quy định quân bình sinh thái tự nhiên. Vi sinh vật và các chủng loại côn trùng sinh sản mau chóng thì có cây cỏ và nhiều loài động vật tiêu thụ. Có những loại thú chuyên ăn thịt chết cho núi rừng không sình thối. Có loài chim bói cá bài tiết nuôi cỏ bờ hoang và đàn cá nuôi chim sống nhờ cỏ ấy, khiến nước không thối và tất cả cùng tồn tại, cùng phát triển. Chim, cỏ, cá, nước hợp thành một môi sinh quân bình viên mãn.

Rau Quả Thịt Cá tươi sạch, không khí trong lành, nước uống tinh khiết, là những nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể con người. Tất cả nằm trong môi sinh và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi môi sinh. Hậu quả của khoa học cơ giới thiếu hiểu biết về môi sinh đã gây ô nhiễm trầm trọng tới nỗi có thể hủy diệt sự sống trên trái đất nếu không điều chỉnh kịp thời.

Con người và môi sinh

Charles Elton định nghĩa khoa môi sinh học là ngành lịch sử mang tính thiên nhiên và khoa học, liên quan tới xã hội học và sự phân phối cũng như tiêu thụ của các sinh vật trên trái đất. Woodbury, Frederich Clements, Krebs, và những nhà môi sinh học lớn hiện nay đều muốn đi vào con đường khảo cứu vận hành tương tác thuộc môi sinh vốn chế ngự an sinh các sinh vật để điều chỉnh sự phân phối không thể thừa hoặc thiếu, rồi tái san sinh, và sự tiến triển bất toàn bất túc, cố tìm ra một hướng phát triển cứu nguy sự sống trên hành tinh này.

Giữa con người và môi sinh có tương quan sinh động, liên tục, tự nhiên, không thể tách rời, cho nên cần nắm bắt mối liên hệ mật thiết qua những biểu hiện bên ngoài có vẻ rời rạc riêng lẻ, nhưng thực sự không ngừng vận hành theo quy luật chuyển hóa rất tinh tế, vi diệu, nhuần nhuyễn, và chuẩn xác, y học Đông Phương tóm gọn trong bảng Ngũ Khí biểu hiện:

Ngũ khí hay Năng lưựng chuyển hóa, hiện hành qua các vật thể đa nguyên đa dạng Khí Trời có Mát Nóng Ấm Khô Lạnh (Phong Nhiệt Thấp Táo Hàn). Mùa xuân, hướng đông, buối sáng thì khí trời mát. Mùa hạ, hướng nam, buổi trưa, thì trời nóng. Mùa thu, hướng Tây, buổi chiều, thì trời khô. Mùa đông, hướng bắc, đêm tối thì trời lạnh. Lúc giao mùa giao hướng, giao thời, thì trời ẩm.

Ứng với khí trời là Khí Đất, hiện hình thành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ (Quặng mỏ, Cây, Nước, Lửa, Đất). Sinh vật hấp thu nguyên khí và chuyển hóa những dưỡng chất của trời đất để sinh trưởng, truyền giống, tích tụ qua năm vị Đắng Cay Mặn Ngọt Chua, và được nhận dạng qua năm màu Đỏ Trắng Đen Vảng Xanh.

Ở con người và động vật, nguyên khí chất chứa và phát sinh từ Tim Phổi Gan Thận Dạ Dầy theo lệnh điều khiển của óc. Với luật Đồng Khí Tương Cầu, khí trời mát mẻ buổi sáng tìm vào thảo mộc, chuyển ra sắc xanh, vị chua, đi vào gan, tỏa ra gân v.v… Các khí khác cũng hoạt động tương tự theo một lộ trình riêng. Nguyên khí hay Năng lượng vận hành liên tục trong không gian và thời gian theo quỹ đạo riêng, nhưng lại liên đới sinh khắc chế hóa với vòng xoay khác, nguyên khí khác.

Tiến trình hấp thụ và chuyển hóa nơi mỗi loài mỗi khác, nhưng cùng theo một quy luật: “biến thực phẩm thành dưỡng chất hòa với dưỡng khí thành năng lượng nuôi sống, phát triển và truyền sinh”. Nói khác đi là chuyển hình thành khí rồi lại biến khí thành hình. Thảo mộc dùng chóp rễ hút mầu mỡ đưa lên lá, quang hợp nhựa nguyên với khí trời thành nhựa luyện, nuôi sống cây. Con người và động vật ăn uống qua miệng mỏ, đưa thực phẩm vào dạ dầy, chuyển hóa thành dưỡng chất, tác hợp với dưỡng khí, biến thành năng lượng, thành khí huyết, rồi theo “đồng khí tương cầu” mà đi lên đi xuống, đi vào lục phủ ngũ tạng, đi vào gân thịt, đi vào xương tủy, đi ra da lông, đi ra móng chân móng tay v.v… Và ở mỗi nơi, khí chuyển thành hình, nuôi dưỡng cơ thể.

Bổ sung một số gia vị trị dạ dày, bổ nguyên khí…

THẢO QUẢ (TÒ HO)

Thảo quả tính ấm, vị cay, không độc. Thảo quả làm ấm Dạ dầy, ích nguyên khí, trị lạnh ẩm trong người, tiêu thức ăn tồn đọng, giải độc rượu.

Muốn dùng thảo quả, phải lấy cám hòa nước sôi thật dẻo, lấy cám dẻo bọc kín thảo quả để nướng chín, bỏ xác và xơ trắng bên trong, chỉ dùng nguyên thịt thảo quả.

Thảo quả và tri mẫu, sắc uổng, trị sốt rét chướng nước.

Người bị cảm nắng, đi tả, nước tiểu đỏ, miệng khô đắng, không dùng thảo quả.

gà hầm thảo qur

TIÊU

Hạt tiêu tính nóng, vị cay, không độc. Hạt tiêu chế ngự các chất độc của thịt cá và các nấm độc, làm nóng Dạ dầy, hạ khí, tiêu đờm, tiêu thực, chữa đau tim vì lạnh, đau bụng khan, ăn xong lại ói ngay, hoặc ruột già lạnh quá sinh tiêu chảy. Nhưng không nên ăn nhiều, có thể hại mắt, hại Phổi.

Hạt tiêu, đậu xanh đều 5 đồng, tán ra bột, uống với nước mộc qua sắc kỹ, mỗi lần 2 đồng, chữa thổ tả, chuyển gân.

Hạt tiêu 1 lạng, cơm nóng 1 nắm, quết nhuyễn như bánh, đắp lên vết thương, hút dằm, gai nhọn ra ngoài.

Hạt tiêu 6 hạt tán ra bột, cho vào trong 1 cái thận heo, nấu lấy nước uống hoặc ăn luôn cả xác lẫn nước, chữa ho lâu không khỏi.

TIỂU HỒI

Tiểu hồi tính ấm, vị cay thơm, không độc. Tiểu hồi bổ thận, trợ tỳ vị, hạ hơi, tiêu khí bĩ hoặc sưng kết làm đau bụng hay âm nang sưng nhức.

Tiểu hồi tán ra bột, uống với rượu mỗi lần 2 đồng cân, chữa bí kết vì bị đánh đập hoặc té ngã sưng đau lưng, nhức mỏi.

Tiểu hồi tán ra bột, cho vào thận heo, bọc giấy nhiều lớp nướng chín, chấm với muối hòa rượu ăn, bổ thận, chữa đau lưng, đau dạ dưới. Tiểu hồi (sao), củ riềng (sao) đều 1 lạng, thương truật ngâm nước gạo, phơi khô, sao giòn, 2 lượng, trích thảo 1 lạng, tất cả tán ra bột uống mỗi lần 1 đồng cân lúc đói với nước muối, chữa Dạ dầy lạnh, đau bụng, không muốn ăn.

các loại tiêu

TỎI

Tỏi tính ấm, vị cay thơm nồng, giúp tiêu hóa thức ăn bằng cá thịt, làm ấm thức ăn để nguội lạnh, kích thích dịch vị, chữa ẩm lạnh trong người. Tỏi là gia vị tốt và còn là dược liệu đề phòng hoặc trị bệnh hữu hiệu, ở Đông cũng như Tây y.

Bác sĩ Pasvo Airola, chủ tịch Hàn lâm viện Quốc tế sinh Y học (International Academy of Biological Medicine) đã dùng tỏi để bào chế thuốc chữa bệnh cao huyết áp. Bác sĩ Piotrouski, giáo sư đại học Geneva, Thụy Sĩ cũng dùng tỏi làm dược liệu chính, chữa bệnh cao huyết áp.

Bác sĩ Arun Bordia và H.c. Barisai, Ân Độ dùng tỏi làm giảm hạ chất mỡ (cholesterol) trong máu, giải quyết 1 khâu quan trọng trong tiến trình phòng ngừa và chữa trị bệnh tim, cũng như các trục trặc chết người trong hệ thống mạch máu, như tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim.

Bác sĩ K.Halwax, Australia, dùng tinh chất lấy từ tỏi và tỏi nấu chín để chữa bệnh thiếu máu kinh niên (Chrenic anemia). Bs K. Halwax không dùng tỏi sống, vì tỏi sống có một độc tố (allicin). Kết quả thử nghiệm điều trị có nhiều giáo sư bác sĩ theo dõi cho là rất khích lệ: số lượng hồng cầu mỗi lần đếm lại thấy nhiều thêm.

Viện nghiên cứu Y dược Nhật lại dùng tỏi chữa bệnh viêm khớp xương (artritis). Kết quả phương pháp trị liệu này còn trong thời kỳ thử nghiệm, giúp 86% bệnh nhân khỏi dứt hoặc giảm đau nhiều mà không gây ra biến chứng hay phản ứng phụ nào.

Tạp chí The Lancet công bố bản tường trình của 3 bác sĩ An Độ dùng tỏi chữa bệnh tiểu đường (Dia- betic) và thiếu đường (Hypoglycemie). Kết quả kỳ diệu là các con chuột bị tiểu đường có hy vọng khỏi vì lượng đường trong máu ngày một hạ giảm, còn những con chuột thiếu đường thì lại gia tăng chất ngọt trong máu mỗi ngày.

Trong sách The Miracle of Garlic (phép lạ của tỏi), bác sĩ P.Airola ghi nhận kết quả một số bác sĩ ở Nga dùng tỏi chữa bệnh sưng ruột già kinh niên (chronic colitis), sưng Dạ dầy (gastritis), ho gà (cooping cough) v.v…

Bác sĩ Gerhard Schrauzer, giáo sư đại học Cali- íornia tại San Diego, Hoa kỳ cho biết tỏi chứa rất nhiều salenium có khả năng kháng bệnh cực mạnh với nhiều loại vi trùng gây ra bệnh lao, sưng màng Phổi, cúm, kiết lỵ, tiêu chảy… Salenium còn ngừa ung thư và bệnh tim. Salenium trong tỏi mạnh gấp 10 lần sinh tố E vả đặc biệt đề kháng tác hại của bụi khoáng chất công nghiệp (chì trong khói xăng), chống nguy hiểm do ô nhiễm môi sinh.

Nhưng người bị phù thũng hoặc đau mắt, trẻ em bụng ỏng, da vàng, nổi gân xanh, sức yếu, không nên dùng tỏi vì trong tỏi có Allicin, rất độc. An nhiều tỏi sống có thể hại mắt/hại gan, hại phổi vì sinh nhiều đờm, hại thận vì làm kiệt tinh, hại tim vì làm máu xấu, hại dạ dầy vì làm tổn khí.

Tỏi bằm nát, ướp thịt cá trước khi nấu nướng, là làm gia vị tốt, chế biến theo khoa học thành thần dược. Nhưng ăn sống, dùng bừa bãi, tỏi lại trở thành độc tố, tác hại.

Một số loại trái cây có thể giải nhiệt, giải rượu hữu ích

HỒNG

Trái hồng tính mát, vị ngọt, không độc, hạ huyết áp, chữa miệng khô, Dạ dầy nóng. Hồng giải khát, tiêu nhiệt, giải nhiệt rượu. Hồng để chín cây thì thịt nhão. Muôn ăn giòn thì hái già, cho vào bình đậy kín nắp, thả xuống nước một thời gian, lấy lên cắn thử không còn chát là đã chín, gọi là hồng ngâm.

Hồng chưa chín ép lấy nước uống, trị phì tuyến giáp và cao huyết áp.

Dược tính hồng chín và hồng ngâm như nhau, nhưng hồng ngâm bị mất hầu hết sinh tố A. Giá trị dinh dưỡng của hồng chín hơn hồng ngâm, nhưng lại mau hư và khó chuyên chở, dễ giập thối.

trái hông

KHẾ

Khế tính ấm, vị chua ngọt làm ấm Dạ dầy, đánh tan những trệ khí bế tắc trong hệ thống tiêu hóa, khử sạch mùi tanh uế khí, tiêu chất béo, trừ phong tà, sinh tân dịch.

Khế có 2 thứ: chua và ngọt. Dược tính của khế chua mạnh hơn. Khế xanh thái mỏng ăn với rau sống, rau thơm, chuối chát, vừa dễ tiêu, vừa trừ uế khí, tạp khí.

Khế ngọt chín ăn vừa ngon, vừa tăng lượng sinh tố A và c. nhưng không ăn nhiều vì dễ sinh nóng trong người, nhất là người tạng nóng. Người đang đau, đang bị sốt, phải kiêng khế.

Lá khế hơi nóng, chà sát lên vùng da đỏ ngứa, chữa dị ứng.

Lá khế rửa sạch, giã nát, nếu khô quá thì giã với chút nước, đắp lên vùng da đỏ ngứa vì dị ứng hoặc lở sơn.

Trái khế chín ăn lúc đói bụng, chữa béo phì, giảm cholesterol trong máu, ngăn ngừa bệnh cao huyết áp.

Trái lê tính hàn, vị ngọt hơi chua, không độc. Trái lê nhuận phối mát tim, giáng hỏa, tiêu đờm, giải khát, giải độc rượu, lợi đại tiểu trường. Trái lê chữa phổi khô, ho khan, ho đờm, nói không ra tiêng.

Trái lê thái mỏng hoặc giã nát, dán hay đắp lên vùng da rất đỏ, chữa bỏng lửa, bỏng nước nóng.

Trái lê giã nát, nấu nước uống, chữa khí uất khạc ra máu.

Trái lê già nát, lọc lấy thịt và nước cốt, hòa với nước gừng sống và mật ong, nấu đặc lại thành cao, uống mỗi ngày 3 lần trước bừa ăn, chữa phổi nóng, phát ho, tân dịch khô cạn.

Trái lê đốt cháy vừa phải, tán ra bột, uống với nước nóng, chữa kiết lỵ lâu ngày, bụng vừa nóng, vừa đau, vừa xót.

Người lạnh bụng, yếu Dạ dầy, và sản phụ không ăn lê.

LỰU

Trái lựu tính ấm, vị chua ngọt không độc, chữa viêm họng, sưng quai bị, sưng chân răng, chữa đau bụng giun sán, lậu tinh. Người tạng nóng không ăn, và không dùng dao để bổ vì tính nó kỵ sắt.

Hoa lựu phơi khô trong bóng mát, tán ra bột, hòa với thiết đơn, uống một năm, tóc bạc đơn lại.

Rễ lựu lấy nước cốt, uống chừng một bát, trị mọi thứ giun sán, kể cả sán xơ mít.

Vỏ lựu lấy nước cốt uống, chữa kiết lỵ lâu ngày, hoặc đi tiêu mùi tanh khó chịu.

lựu

MẬN

Trái mận (mận Đà Lạt) tính ấm, vị chua ngọt, điều hòa tỳ vị, giải nhiệt, chữa nhức mỏi trong xương. Trái nào thả vào nước không chìm là có nhiều độc, không ăn.

Hoa mận đắng thơm, không độc, sắc nước uống và rửa mặt, chữa da mặt nhám đen khô cằn.

Lá mận chua, nấu nước tắm cho trẻ thơ, chữa nóng dữ dội.

Các loại quả mang tính nóng, ấm nhưng bổ máu, trị các bệnh phong thấp, đau lưng, mỏi gối

VẢI

Trái vải tính ấm, vị ngọt chua thơm, không độc. Trái vải bổ máu, giải nhiệt, trợ khí, tiêu thũng, trừ ung nhọt. Trái vải cũng đánh tan trệ khí, phong thấp, chữa đau lưng, mỏi gối, chồn chân. Trái vải còn trợ tim, giải buồn phiền, khát nước, tráng khí, sinh tân dịch.

Hạt vải chữa ngọc hành tự nhiên sưng lên đau nhức, biến chứng của đau tim, đau ruột non.

Vải là trái cây thuộc dương (vỏ đỏ, hạt đỏ), sinh hỏa, ăn nhiều sẽ sinh mụn nhọt. Muốn giải nóng do vải, uống ly nước mật hoặc mật ong.

trái vải

VÚ SỮA              

Vú sữa tính mát, vị ngọt bổ thận và dạ dầy, mát tim phổi. Vú sữa sinh tinh, sáp trường (làm cho phân đặc lại), chữa mộng di tinh, huyết trắng huyết trọc, ngưng tiêu chảy.

Vú sữa chín cây, ăn mỗi ngày 2 trái, càng lâu càng tốt, đại bổ thận, mát bàng quang, giải uất nhiệt, chữa huyết trắng huyết trọc.

Lá vú sữa non, lá ổi non, rau má, đều 2 đồng, giã nát, chế nước sôi vào, lọc lấy nước uống, chữa thấp nhiệt đi tiêu ra đờm máu, đau bụng.

Vú sữa có 2 thứ : trắng và nâu sậm, ruột đều trắng và nhiều sữa, dược tính như nhau. Có người tỉ mỉ cho là vú sữa nâu sậm tốt cho thận và tim, còn vú sữa trắng tốt cho Dạ dầy và Phổi.

vú sữa

XOÀI

Xoài tính nóng, vị ngọt chua, trị bệnh hoại huyết, loạn óc.

Lá xoài non lợi tiểu, thanh nhiệt giải độc, tiêu thực, sát trùng.

Nhân hạt xoài thái mỏng, phơi khô, sao vàng, sắc uống trị kiết lỵ, tiêu chảy, huyết trắng.

xoài

Bước 3: theo tính theo lượng của kỹ thuật nấu ăn

THEO TÍNH THEO LƯỢNG

Món ăn có tác dụng phòng trị bệnh nhiều hay ít là do dược tính trong thực phẩm có giá trị cao hay thấp. Thịt cá hay rau quả đều chứa ít nhiều dược tính như đã phân tích đai khái trọng chương DƯỢC TÍNH TRONG THỰC PHẨM. Bây giờ, khi nấu nướng cần chú trọng tới TÍNH NĂNG của nguyên liệu. Khá nhiều loại nguyên liệu thực phẩm có hình dạng giống nhau nhưng tính năng lại khác nhau. Chẳng hạn như nấu món cá, kho, chiên, hay nấu canh, cũng cần phân biệt cá nước ngọt, nước lợ, nước mặn, cá sông, cá ao và còn phân biệt cá theo mùa. Cá mùa đông dầy thịt, thơm ngon, giàu dinh dưỡng.

lươn om

Cá mùa hè mỏng thịt, nhão, ít đạm. Lươn và trạch hình dáng giống nhau, nhưng lươn tính ấm ngọt, bổ ngũ tạng, còn trạch tính bình, ngọt, trừ phong, sát trùng, trị đau nhức xương, tê thấp, viêm âm đạo. Do đó cần chọn món ăn theo tính năng thích hợp với nhu cầu. Nguyên liệu thực phẩm là cách gọi chung, phạm vi rất rộng, gồm ngũ cốc, rau quả, thịt cá và gia vị. Có những loại bay trên trời, sống trong đất, bơi dưới sình, ngủ đông, hoang dại hoặc những trái cây mọc trong rừng, sống hoang dã, phải là chuyên gia và dầy kinh nghiệm mới có thể sử dụng thích hợp. Thông thường chỉ nên ăn gia cầm, gia súc, rau trái trồng trong vườn, thịt, cá, tôm, cua, quen thuộc. Đừng nghe tin đồn rau lạ, thịt quý, cá hiếm. Một số người dị ứng với món nào thì nên tránh món đó, nhất là những người gan yếu, đau dạ dầy và kém tiêu hóa.

cá

Rau quả, thịt cá nuôi trồng theo khoa học tự nhiên, đúng mùa thường mang theo tính năng thiên nhiên tốt nhất, mùa nào thức ấy. Thực phẩm tươi sống trong vùng thường có tác dụng tốt hơn đồ hộp hoặc các thứ ngoại nhập từ xa. Mỗi khu vực dân cư có một sô chủng tố (gen) đáp ứng tính năng thực phẩm thiên nhiên trong vùng. Á châu ăn gạo, Âu châu ăn bánh mì. Món ăn Âu Á, Hoa Việt, phát xuất từ những chủng tố (gen) đặc thù ấy. Món ăn nào có tính năng thích hợp với bản thân và gia đình là món ăn tốt nhất. Đừng tính đắt rẻ hay dân dã hoặc cao lương mỹ vị. Tính năng của món ăn và người ăn có hợp nhau thì cơ thể mới dễ hấp thụ và sinh hóa.

Khi nấu nướng, chẳng những phải theo tính năng thực phẩm và thực khách mà còn phải theo đúng lượng. Tỷ lệ giữa nguyên liệu, phụ liệu, dược liệu và gia vị, căn cứ theo tính năng và tác dụng của món ăn, đồng thời phải bảo đảm số lượng chuẩn xác và hợp lý.

rau quả

Món ăn phòng trị bệnh cần cân đong đo đếm liều lượng để kết hợp tối ưu tính năng của nguyên liệu, phụ liệu, dược liệu và gia vị. Có món ăn phụ liệu ít hơn nguyên liệu, nhưng có món ăn ngược lại, như rau và thịt trong món xào, món canh và nguyên tắc chung là tỷ lệ dược liệu bao giờ cũng rất nhỏ so với nguyên liệu và phụ liệu. Đây là nguyên tắc quan trọng, vì thực phẩm lấy thịt cá rau đậu để bồi bổ và phòng trị bệnh, còn dược liệu chỉ phát huy tác dụng theo bốc thuốc có bài bản, không thể thay đổi tùy tiện. Lượng gia vị. xì dầu, nước mắm, muối, đường, nước dùng vừa đủ, tránh ảnh hưởng tiêu cực và tác dụng không tốt đối với món ăn hoặc người ăn. Chẳng hạn như hồi, quế, tiêu đánh mùi tanh và tăng hương thơm, vị cay nhưng đều nóng. Ăn nhiều hồi hại mắt, nổi mụn. Ăn nhiều quế hại não, hôi miệng. Ăn nhiều tiêu hại phổi, dễ bị trĩ v.v… Nhưng gia vị vừa là thực phẩm vừa là thuốc như hành, tỏi, gừng, bạc hả, hẹ có thể tăng lượng khi nấu món ăn đặc trị. Còn gia vị đơn thuần là thuốc thì sử dụng liều lượng như kê đơn thuốc.

Bữa cơm gia đình cùng một kiến thức hiện đại và bổ ích cho sức khỏe

BỮA CƠM GIA ĐÌNH

Bữa cơm gia đình đúc kết những kiến thức đã trình bày, từ tương quan mật thiết giữa con người với môi sinh, tới những hiểu biết riêng biệt về hoạt động của nội tạng, về những dưỡng chất lấy từ thực phẩm đủ loại để đáp ứng đòi hỏi tự nhiên của cơ thể theo luật Đồng Khí Tương cầu, và về dược tính của từng loại thực phẩm v.v…

Bữa ăn hàng ngày là nhu cầu chính đáng, thực tế, cần thiết cho sức khỏe, tuổi thọ cá nhân, gia đình và xã hội. Bữa ăn hàng ngày ảnh hưởng trực tiếp, tức khắc và lâu dài, tới sức khỏe và tuổi thọ, đồng thời cũng tác động liên tục vào não bộ và cuộc sống con người. Thông minh, nhớ dai, nhận định đúng, ứng xử hay, một phần do yếu tố di truyền, thành quả giáo dục, thao tác cá nhân, dấu ấn thời đại, ảnh hưởng xã hội, sinh khí gia đình và không quên dưỡng chất tiếp nhận hảng ngày cũng là yếu tố đáng kể, giữ vai trò tương đối quan trọng. Sự vui vẻ hài hòa, óc cởi mở phóng khoáng, tình yêu thương chân thành, hướng lý tưởng vươn cao, một phần do tinh thần sẵn có vả ăn uống hàng ngày cũng ảnh hưởng một phần. Ốm đau sinh cau có là chuyện thường tình. Già yếu sinh lẩm cẩm khó tính là thực tại ở đâu và thời nào con cháu cũng sẵn sàng chịu đựng.

Bữa ăn hằng ngày chẳng những thay đổi sức khỏe cá nhân và gia đình, mà còn tác động vào ngoại hình cũng như nội tâm của cả dân tộc, thế hệ này sang thế hệ khác. Người Nhật sống trên quần đảo Nhật Bản, điều kiện khí hậu và tập quán sinh hoạt giống nhau, chỉ khác nhau kiến thức dinh dưỡng, thay đổi bữa ăn gia đình, mà thế hệ hôm nay không “lùn như Nhật” ở các thế hệ trước Đệ nhị thế chiến. Người da màu trên đất Mỹ hôm nay không chấp nhận thân phận nô lệ như xưa mà ý thức đầy đủ về nhân quyền, nhân vị, nhân phẩm v.v… Những người “có ăn có học” thì có ăn đi trước, có học theo sau. Sức khỏe, tuổi thọ, cuộc sống văn minh của một dân tộc dễ dàng nhìn thấy qua bữa ăn hằng ngày.

bữa cơm gia đình

Bữa cơm gia đình rất bình dị và giản tiện như thói quen xưa nay, không bàn cải vấn đề “ăn để sống hay sống để ăn”, dưa muối qua ngày hay thích của ngon vật lạ, mà trong điều kiện kinh tế mở cửa, cần mới rộng tầm nhìn về phía trước, tăng cường sức sống cho bản thân, gia đình và dân tộc hôm nay và mai sau. Chưa cải tiến bữa cơm gia đình thì nhà ta, nước ta, chưa bằng vai với thiên hạ. Mỗi lần gặp gỡ cứ phải nhìn lên, cả tầm vóc thân xác lẫn kiến thức, trong các cuộc đối thoại tay đôi hay quốc tế, đứng riêng tư hay nơi cộng đồng là một nỗi thẹn.

Bữa cơm gia đình cải tiến không đòi cao lương mỹ vị, không cần món lạ món sang, không cần nấu nướng cầu kỳ, không cần giống Tây giống Tầu mà chỉ cần cải tiến chất lượng, nắm vững những kiến thức khoa học tổng hợp y lý Đông Tây, và đáp ứng một số điều kiện cơ bản khi thực hiện kế hoạch dinh dưỡng cho gia đình trong bữa ăn hàng ngày.

Phân tích trọng tâm về ăn uống khi mắc bệnh thời khí

BỆNH THỜI KHÍ

THỜI KHÍ là khí trời khí đất thay đổi theo thời tiết bên ngoài ảnh hưởng vào nhân khí bên trong. Thời tiết là từ ghép do Thời và Tiết.

A.  THỜI ở đây có nghĩa là MÙA. Địa lý Việt Nam có hai vùng khí hậu: hai mùa và bổn mùa.

MIỀN NAM CHỈ CÓ HAI MÙA: Mưa và Nắng. Mùa mưa vào khoảng tháng 5 tới tháng 11 dương lịch. Mùa nắng cuối tháng 11 tới đầu tháng 5. Giáp nắng giáp mưa là thời gian hay bệnh, nhất là tháng 3 tháng 4, chuyển nắng sang mưa và những trận mưa đầu mùa, trời nóng cháy, đất bổc khói, tất cả các chứng cảm cúm, dịch bệnh mặc sức tung hoành, xâm nhập vào cơ thể con người. Trẻ em dễ bệnh vào cuối nắng. Các cụ hay bệnh vào đầu mùa nắng, trời khô trùng lặp vào tiết cuối thu sang đông âm lịch.

MIỀN BẮC có 4 mùa rõ rệt: Xuân Hạ Thu Đông. Bốn mùa thay đổi theo âm lịch. Mùa xuân bắt đầu từ tết nguyên đán tới tháng ba. Mùa hạ ba tháng : tư, năm, sáu. Mùa thu ba tháng bảy tám chín. Và mùa đông ba tháng cuối năm.

Tính theo ngũ hành thì, mùa Xuân thuộc MỘC, hai tháng giêng và hai. Mùa hạ thuộc HỎA, hai tháng tư và năm. Mùa thu thuộc KIM, hai tháng bảy và tám. Mùa đông thuộc THỦY, hai tháng mười và mười một. Bốn tháng còn lại thuộc THỔ, ba – sáu – chín – mười hai, còn gọi là thìn – mùi – tuất – sửu.

B.  TIẾT là khí trời thay đổi, điều tiết theo mặt trời, xoay chuyển theo dương lịch. Mỗi năm có 24 tiết khí. Mỗi tiết khí 15 ngày.

LẬP XUÂN (bắt đầu từ mồng 4 tháng 2 dương lịch): hoa nở, bướm bay.

VŨ THỦY (19 tháng 2 dl): bắt đầu mưa lất phất.

KINH TRẬP (5 tháng 3 dl): côn trùng nổi dậy

XUÂN PHÂN (21 -3 ) khí xuân ấm áp

THANH MINH (5 – 4): ngày xuân tươi sáng.

CỐC VŨ (20 – 4): mưa râm, cây cổ nẩy mầm.

LẬP HẠ (5 – 5): hoa sen nở rộ

TIỂU MÃN (21 – 5): nước chảy, mùa nước sông lên.

MANG CHỦNG (6 – 6): gieo hạt

HẠ CHÍ (22 – 6): bắt đầu nóng gay gắt

TlỂU THỬ (7 – 7): nắng hạn, đồng khô.

ĐẠI THỬ (23 – 7): nắng gắt, ruộng đồng nứt nẻ.

LẬP THỬ (7 – 8): tiết ấm, gió hòa, lúa khởi đơm hoa

XỬ THỬ (23 – 8): hết nóng, khí trời mát, dễ chịu.

BẠCH LÔ (8 – 9): đường sương trắng bao phủ

THU PHÂN (23 – 9): trăng lớn, gió nhẹ khô

HÀN LỘ (8 – 10): đường sương lạnh, cỏ héo úa.

SƯƠNG GIÁNG (23 – 10): sương rơi nặng hạt.

LẬP ĐÔNG (7 – 11): khí lạnh sập xuống.

TIỂU TUYẾT (22 – 11): tuyết đọng trên lá cây hư sương.

ĐẠI TUYÊT (7 – 12): tuyết rơi, sương nặng hạt.

ĐỒNG CHÍ (22 – 12): sương lạnh buốt

TIỂU HÀN (6 – 1): khí trời lạnh giá kéo dài

ĐẠI HÀN (21-1): trời lạnh cóng, nhưng chỉ vài ba bữa.

Bệnh thời khí do thời tiết xấu ảnh hưởng cả một vùng dân cư chứ không riêng ai hoặc gia đình nào. Tùy sức đề kháng cá nhân yếu hay mạnh mà bị hay không bị bệnh. Dù sức đề kháng thế nào thì cũng rất cần ăn uống hoặc dùng thuốc để trợ lực. Ở đây cần nhấn mạnh lời khuyên của các danh y: ĐỪNG LẠM DỤNG THUỐC! Tây dược hay Đông dược đều có CỒNG và PHẠT, trị mặt này thì hay phá mặt khác. Có khi sức phá âm ỉ và nguy hiểm chết người. Chẳng đặng đừng thì mới dùng thuốc. Khi chưa mắc bệnh thực sự thì chỉ cần ăn uống để tăng cường sức đề kháng.

giải  hiệt cùng thời tiết

Thời tiết thay đổi làm nhiều người cảm cúm thì uống mỗi ngày vài ly nước chanh, ăn thêm trái cam, mấy trái cóc, miếng thơm (dứa) v.v… Cả vùng đang bị dịch tả thì uống nước sôi, ăn đồ nấu chín, không ăn rau sống, không ăn hàng bán rong, và phải trừ ruồi nhặng v.v… Cả vùng đang bị cảm cúm thì tăng cường sinh tố C qua nước cam, nước chanh, ăn cóc, ăn bưởi v.v…

Bệnh thời khí thường theo chu kỳ, có thể đoán trước. Sắp tới mưa nắng nóng lạnh, thời tiết thay đổi đột ngột và khắc nghiệt, thì phải đề phòng, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể bằng ăn uống, hít thở, luyện tập, ngủ nghỉ.

Học cách hòa hợp tất cả mọi thứ từ những bữa ăn

HÒA HỢP DƯỠNG THỂ VÀ DƯỠNG TÂM

“Của không ngon nhiều con cũng hết”, “Món ăn ít mà nhường nhau thì thừa, món ăn nhiều mà tranh nhau thì thiếu” (Ngạn ngữ). Món ăn ngon hay dở, nhiều hay ít, không quan trọng tuyệt đối. Dưỡng chất mỗi người tiếp nhận lệ thuộc rất nhiều vào điều kiện tiêu hóa do ảnh hưởng không khí bữa ăn.

Dưỡng chất thể lý đem lại sức khỏe cho cơ thể, nhờ đó cơ thể vui vẻ hưng phấn, dễ hòa hợp với mọi người. Cả nhà vui vẻ phấn chấn thì hệ thống tiêu hóa, hệ thống tuần hoàn của mỗi người làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn, hấp thụ dưỡng chất tối đa và tuyệt hảo. Tương quan giao cảm tâm sinh lý trong bữa ăn là vòng quay khép kín nơi nội tạng con người muôn nơi muôn thuở.

Làm sao hòa hợp dưỡng chất thể lý với dưỡng chất tâm lý? Bữa cơm gia đình cung cấp dưỡng chất cho cơ thể, đồng thời cũng là tụ điểm giao lưu giữa các thành viên trong một mái ấm. Những câu chuyện vui vẻ hồn nhiên trao đổi trong bữa cơm đôi khi chuyên chở tin tức mới, kiến thức mới, kinh nghiệm cũ, kho báu cũ. Nội dung những chuyện không đầu đuôi, không chuẩn bị, đôi khi đưa nhẹ vào khoa học tiên tiến, vào truyền thống văn hóa đạo đức, cung cấp dưỡng chất tâm tính để con người Giáo dục trên bàn ăn, không có ai là khách mà tất cả là chủ, không có bục giảng mà mọi người cùng nói cùng nghe, một cử chỉ vô tình của bé cũng khiến cả nhà chú ý, phì cười hay lo lắng.

Khủng hoảng gia đình ở nhiều nước Âu Mỹ hiện nay có nhiều nguyên nhân, trong đó có một phần vật lộn với thời gian, gia đình không thể ngồi ăn với nhau hằng ngày, dưỡng chất tâm lý bị suy yếu, bị cắt đứt. Bữa cơm gia đình mất giá trị dinh dưỡng một nửa, chỉ còn là bữa ăn nhai vội, nuốt vội, thui thủi một mình, cố gắng tìm đủ dưỡng chất nuôi sống thân xác. Muốn duy trì và tăng trưởng sức mạnh gia đình, sức mạnh dân tộc, thì phải hòa hựp dưỡng chất thể lý và tâm lý trong bữa cơm gia đình.

hòa hợp downgx thể và dưỡng tâm

HÒA HỢP CÁ NHÂN VỚI GIA ĐÌNH

Hằng ngày ăn uống thanh đạm hay thịnh soạn không phải là yếu tố quyết định đem lại sức khỏe và hạnh phúc cho con người.

“Râu tôm nấu với ruột bầu,

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.”

(Ca dao).

Vợ hay chồng, ông bà cha mẹ hay con cháu, mỗi người là một nhân vị, một cá thể có cá tính và cuộc đời riêng, nhưng lại sống chung với nhau, quấn quít bên nhau bằng sợi dây huyết thống, gắn chặt vào nhau bằng mối tình huyết nhục. Bữa ăn cung cấp dưỡng chất sinh ra khí huyết và xương tủy. Gia đình là cơ cấu tự nhiên, là môi sinh cơ bản, là nền tảng xã hội, là chỗ dựa của cá nhân. Mỗi con người sơ sinh không thể tự tồn tự túc, khi lớn lên không thể tự trưởng thành về mọi mặt, khi già cả không thể tự chống đỡ với lão hóa bệnh tật. Gia đình là mái ấm che chở tất cả, và bữa cơm hằng ngày nuôi sống thể xác cũng như tinh thần, nối kết cá nhân với gia đình. Nếu bữa cơm gia đình không hòa hợp, ông một nồi, bà một niêu, con một nẻo, cháu một chỗ, là dấu hiệu cuộc sống tan vỡ, tàn lụi, bất toàn, bất hạnh. Những viên gạch không nối kết thì nhà đổ, gạch vỡ.

Bữa ăn trong viện dưỡng lão, không phiền hà con cháu, chỉ là tưới bón cho cây già chờ chết, không còn sinh hoa kết quả. Ngược lại, bữa cơm trong gia đình, người già là trụ vững cho con cháu nương tựa cả vật chất lẫn tinh thần, Người già không làm ra tiền, có khi không còn gì để lại cho con cháu, chỉ còn kinh nghiệm ứng xử, định hướng kinh doanh và những cái đó mới cần. Không còn cá, không còn cần câu, nhưng hướng dẫn phương pháp câu cá thì con cháu có cá ăn.

Những lời từ đáy lòng và đỉnh não của cha mẹ, đưa con cháu đi theo hướng thiện, khôi phục gia phong gia lễ, phát huy nhân ái nhân đạo và tìm lại anh chị em trong nhà trong họ nếu có bất hòa vì hiểu lầm hay hữu ý v.v… Người già hiện diện trong bữa cơm gia đình không phải là gánh nặng, thừa thãi, cần sớm chôn đi cho khuất mắt rảnh tay, khỏi phiền khỏi tốn, mà là một trung tâm hòa hợp, đau xót khi chia lìa.

canh bầu

Bữa ăn của bé trong nhà trẻ, trong ký túc xá, chỉ cung cấp dưỡng chất cho thể xác, có khi sinh ích kỷ, bắt nạt người khác, cào cấu cho bản thân. Ngược lại, bữa cơm gia đình hình thành một nhân cách, một cái nhìn tương thân tương ái, một lối sống tự do, tự chế, một nỗ lực phục vụ hôm nay và tương lai, một cố gắng vươn tới ấm no hạnh phúc v.v… Bữa cơm gia đình hòa hợp sức mạnh và ước mơ của tuổi trẻ với cả nhà.

Có thể nói, bữa cơm gia đình là nhựa dẻo dính chặt cá nhân với gia đình. Nếu gia đình là môi trường thiên nhiên thiết yếu cơ bản của xã hội loài người thì bữa ăn chung sống hằng ngày là tâm điểm phát xuất và phát triển cuộc sống con người. Cá nhân không hòa hợp với gia đình, gây ra khủng hoảng gia đình, kéo theo khủng hoảng xã hội và ảnh hưởng dội ngược sẽ sinh khốn khổ bất hạnh cho cá nhân trong cuộc sống tình cảm cũng như liên đới xã hội.